Hồ sơ – Tiểu sử – Truyện Ngắn: Janna – CƠN THỊNH NỘ CỦA BÃO TỐ

0 71
Là một tinh linh gió cổ đại và bí ẩn, Janna hiện hữu để bảo vệ cho những con người khốn cùng ở Zaun. Dù sự hiện diện của cô thường được cảm nhận qua những luồng gió thoảng man mát, hay cơn thịnh nộ của những trận cuồng phong, cô cũng có thể hóa thân thành một dạng sống hữu hình để vỗ về những kẻ yếu thế. Trong nhiều thiên niên kỷ, Janna đã chứng kiến sự trỗi dậy và rồi sụp đổ của nhiều nền văn minh khác nhau. Vượt trên tất cả, cô vẫn chẳng hề lay chuyển, như một ngọn hải đăng mang niềm hy vọng đến cho những ai cần nó.
Hồ sơ - Tiểu sử - Truyện Ngắn: Janna - CƠN THỊNH NỘ CỦA BÃO TỐ - ho so tieu su cau chuyen cua JANNA -

“Đừng e sợ ngọn gió đổi thay – chúng luôn ủng hộ bạn.”~ Janna

  • Tên Tướng: Janna
  • Chủng tộc: Tinh Linh
  • Vai Trò: Hỗ Trợ
  • Vùng Đất: Zaun

Tiểu Sử Janna – CƠN THỊNH NỘ CỦA BÃO TỐ

Kể từ thời cổ đại, đã có không ít người thờ phụng những ngọn gió. Từ các thủy thủ mong chờ những khi thời tiết đẹp, cho đến những kẻ bần hèn mong một ngày được phất lên, người phàm luôn đặt hy vọng của họ vào bên trong những ngọn gió, những cơn cuồng phong thổi dọc theo thế giới Runeterra.

Bất ngờ thay, đôi khi dường như chính những ngọn gió cũng đáp lại lời họ. Những thủy thủ ngoài khơi xa thường nhìn thấy một chú chim lông xanh trước khi những cơn gió tốt lành vỗ về cánh buồm của họ. Những người khác có thể nghe được tiếng không khí rít lên trước những cơn bão lớn, như thể cảnh báo họ rằng nó đang đến gần. Khi những lời đồn đại này được lan truyền, và hình ảnh chú chim ngày càng được thấy nhiều hơn. Nhiều người còn thề rằng họ đã thấy chú chim biến thành một người phụ nữ xinh đẹp nữa. Với đôi tai nhọn và mái tóc bồng bềnh, cô gái bí ẩn này được kể lại rằng có thể lơ lửng trên mặt nước và điều khiển ngọn gió chỉ bằng cách phất chiếc quyền trượng của mình.

Những kẻ ngoan đạo gọi tinh linh gió này là Jan’ahrem, một cổ ngữ Shurima mang nghĩa “người bảo vệ,” bởi dường như cô ta luôn xuất hiện trong những thời khắc hiểm nghèo nhất. Thời gian dần trôi, và người ta bắt đầu gọi cô với một cái tên đơn giản hơn, Janna.

Cái tên đó được lan truyền khắp những bờ biển của lục địa Shurima, và những cư dân Oshra Va’Zaun ngoài khơi xa là những tín đồ trung thành nhất của cô. Họ phụ thuộc vào sóng yên biển lặng để những chiếc thuyền buông có thể cập bến thành phố. Tượng và đền đài được dựng nên để tôn thờ tình thương của Janna. Sau khi đế chế Shurima thôn tính thành phố này, những sự thờ phụng đó vẫn tiếp diễn… trong ít lâu.”

Khi hoàng đế ban ý chỉ dẹp bỏ những “ngụy thần,” những bức tượng của Janna đã bị kéo sập. Nhưng mặc cho sự thờ phụng các vị thần chiến binh có lấn át, nhiều người vẫn cầu nguyện cho Janna trong thinh lặng, bởi những vị thần chiến binh ấy nào có bảo vệ thuyền của họ khỏi bão dữ? Những người phàm đó thường mang theo bên mình một lá bùa với hình ảnh chú chim xanh – một kỉ vật nhỏ bé, mang tính cá nhân hơn nhằm tôn vinh Janna.

Dù sao đi chăng nữa, Janna vẫn luôn trợ giúp những kẻ yếu thế thỉnh cầu sự giúp đỡ của cô. Nơi những vùng đất đầy rẫy những biến động, cô vẫn là một tượng đài bất biến. Những ai nghiên cứu lịch sử có lẽ sẽ nhận ra sự thật trớ trêu rằng hiện thân của thứ gọi là “ngọn gió đổi thay” lại là thứ duy nhất chẳng hề thay đổi.

Sau khi đế chế vĩ đại sụp đổ, vùng đất màu mỡ trước đây chẳng còn gì ngoài một sa mạc khô cằn khi những Thể Thăng Hoa còn sót lại chỉ mang đến chiến tranh và hỗn loạn – dù vậy Janna vẫn che chở cho thành phố ấy, giờ đây được biết đến với cái tên Zaun, khỏi những biến động ngoài kia.

Trong nhiều thế kỉ, Janna chứng kiến tham vọng của Zaun dần bành trướng. Dù thành phố vẫn là một cảng thương mại sầm uất, nhưng những cư dân nơi đây vẫn muốn nhiều hơn. Họ mơ tưởng đến việc đào một dòng kênh xuyên qua eo đất nơi họ sinh sống, mở ra một hải trình kết nối những vùng biển bao bọc quanh Valoran và Shurima lại với nhau. Thành phố đã đổ hàng đống công sức, tiền bạc, và thời gian vào công trình đó. Những lời cầu nguyện đến Janna cũng dần phai nhạt đi, bởi giấc mơ phàm nhân của họ giờ đây đã được đặt niềm tin nơi những thứ máy móc phàm nhân.

Dù vậy, việc xây dựng dòng kênh đã khiến địa hình của Zaun trở nên bất ổn hơn bao giờ hết. Và rồi, trong một ngày thảm họa, cả một quận trên Sông Pilt đổ sập xuống dưới bờ biển phía tây, và tính mạng của hàng ngàn người bị đe dọa trầm trọng nơi dòng nước dữ.

Khi những linh hồn xấu số đối mặt với tử thần, họ đã cầu xin đến sự cứu rỗi. Họ gọi tên người vệ thần cổ đại của họ:

Janna.

Dù giờ đây hầu hết người phàm có lẽ đã lãng quên cô, nhưng Janna vẫn không ngần ngại ra tay tương trợ họ. Một luồng gió mạnh thổi xuyên qua thành phố khi cô bắt đầu hiện thân. Những bức tường không khí phi thường chặn đứng dòng nước dữ, cho phép những cư dân bỏ chạy khỏi đống hoang tàn đã từng là nhà của họ. Những ngọn gió dữ dội thổi bay đi làn khói đen ngột ngạt từ ngọn lửa được tạo ra bởi vụ tai nạn. Và dù ngày hôm đó Janna đã cứu được rất nhiều,hàng ngàn người vẫn phải bỏ mạng – nhưng tất cả những ai sống sót đều được chứng kiến ân huệ đó của Janna. Chẳng bao giờ thành phố này có thể một lần nữa quên đi người đã cứu rỗi này.

Tận ngày nay, trong khi thành phố Piltover đang trỗi dậy mạnh mẽ, và giữa một Zaun hiện đại đang gặp không ít những chật vật, những kẻ thờ phụng Janna vẫn mang theo những chiếc bùa hình chú chim xanh, và bày tỏ lòng kính trọng đối với những cơn gió. Dù vật đổi sao dời, Janna vẫn kiên định đứng đó, bằng sự khiêm nhường và ôn hòa. Những cư dân nơi Zaun luôn biết rằng dù là khi họ đang cố hít thở trong làn khói độc hại của Zaun Xám, hay khi họ đang chống lại sự bạo lực của những hóa-chủ, hoặc khi họ đang chiến đấu với những mối hiểm họa khác, Janna sẽ không bao giờ bỏ rơi họ.

Truyện Ngắn Janna 1: HÍT SÂU

Họ nghĩ Zaun là nơi những kẻ thua cuộc sinh sống.

Họ không thừa nhận, tất nhiên rồi – họ sẽ cười toe toét, đập vào lưng chúng ta và bảo Piltover chẳng là gì nếu không có Zaun. Những con người chăm chỉ của chúng ta! Nền thương mại sầm uất của chúng ta! Đồ hóa-kỹ của chúng ta, cái ai ở Piltover cũng tỏ vẻ là không mua, ngoại trừ việc họ mua liên tục! Zaun là một phần thiết yếu trong văn hóa Piltover, họ sẽ nói vậy đấy.

Tất cả đều dối trá. Hiển nhiên.

Họ nghĩ Zaun là nơi lũ ngốc tới. Những kẻ quá đần độn để bước vào những tòa tháp vàng của Piltover.

Những kẻ như tôi.

Tôi dành nhiều tháng học hỏi để có thể đăng ký thực tập trong Gia tộc Holloran. Tôi đã sục sạo mọi quyển sách rách nát tìm được trong xưởng máy. Tôi đã tạo ra mẫu thử một loại vòng tay giúp những ai bị gãy hoặc viêm khớp cổ tay nâng cao tính cơ động. Tôi đã làm mọi điều có thể để giành quyền thực tập ở Piltover. Tôi thậm chí còn đạt đến bước cuối trong quá trình kiểm tra: gặp gỡ mặt-đối-mặt với chính Boswell Holloran.

Họ nói đó chỉ là thủ tục. Chỉ là một cách để chào đón tôi đến với gia đình.

Ông bước vào phòng, nhìn xuống bộ quần áo dính đầy Zaun Xám, và cất tiếng cười lạnh lẽo. ông ta nói, “Rất tiếc, chàng trai – ở đây chúng tôi không nhận chuột-hầm.”

Ông thậm chí còn chẳng ngồi xuống.

Nên giờ tôi quay lại đây. Ở Zaun. Lại một tên ngốc nữa.

Mây Xám lảng bảng trên phố, mừng tôi trở về. Hầu hết thời gian, nó đủ mỏng để bạn hít sâu mà không ho ra thứ gì đó ướt ướt. Nhưng hôm nay, đây là thứ chúng tôi gọi là Xuất Xám. Bạn nghẹn họng sau mỗi lần ho hấp. Ngực bạn thắt lại. Không thể thấy gì ngoài mấy đầu ngón tay. Tôi muốn chạy, nhưng tôi biết chẳng có nơi nào để chạy tới. Mây Xám như đang xáp lại, nghiền nát tôi, bóp nghẹt tôi.

Đó là lúc tôi cầu nguyện Janna.

Không phải ai ở Zaun cũng tin cô có thật, nhưng mẹ tôi luôn giữ vững tín ngưỡng. Bà bảo tôi một con chim xanh bay ngoài cửa sổ trong ngày tôi sinh ra, và bà biết – bà biết – đó là Janna nói với bà rằng tôi sẽ ổn thôi.

Tất nhiên bà đã nhầm. Sau cùng thì tôi không ổn chút nào. Hai năm trước, bà – mẹ tôi – đã chết trong lúc lùng phế liệu, và tôi phải tự nuôi sống bản thân nhờ vài thiết bị bà để lồi. Rồi, như thường lệ: không có bạn bè. Bị đập vô số lần. Cố gắng học, cố gắng nghĩ cách lên Piltover. Không làm được. Nhận ra Janna đã quên mất tôi.

Những tôi vẫn giữ tấm bùa mẹ cho: một mảnh gỗ khắc hình chú chim bà đã thấy. Đề phòng những trường hợp thế này.

Nên tôi ngồi trên nền đất ẩm bởi tôi không cần tìm ghế, và tôi lấy tấm bùa chim xanh luôn nhét trong túi ra, nói chuyện với Janna.

Tất nhiên không nói to – chẳng cần để người khác nghĩ tôi là đồ quái dị bị hóa chất đầu độc – nhưng vẫn là nói chuyện.

Tôi không đòi hỏi cô ấy điều gì. Chỉ kể về ngày hôm nay và ngày trước đó. Về cảm xúc lo sợ khi nghĩ mình sẽ chẳng bao giờ trở thành người có giá trị và sẽ chết ở tận đáy Hầm Thấp mà chẳng thể hiện được gì trước mẹ. Đôi khi tôi chỉ muốn chạy đến nơi nào dễ hít thở và không còn thấy chết khiếp hay phát khóc bất kỳ lúc nào và tôi ghét bản thân ra sao khi muốn khóc vì không được như người khác. Đôi khi tôi nghĩ đến việc gieo mình xuống vũng hóa chất trong Hầm Thấp, cứ gieo mình và chìm xuống tận đáy đến khi phổi ngập chất dịch. Ít nhất thế là kết thúc. Tôi bảo Janna tôi hy vọng cô ấy ổn. Tôi hy vọng cô ấy hạnh phúc dù đang ở đâu.

Đó là khi tôi thấy gió mơn man gò má. Chỉ thoảng nhẹ, nhưng vẫn có. Rất nhanh, tôi cảm thấy nó thổi tóc bay lòa xòa trên mặt. Gió rít nhanh và mạnh, tung áo choàng ngoài của tôi bay phần phật như thể tôi đang đứng giữa tâm bao.

Mây Xám cuộn lên phía trước, bị xua đi bởi cơn gió dường như đến từ khắp mọi nơi. Màn sương dần tan biến, và tôi có thể thấy những người qua lại ở Tầng Xép ngắm nhìn nó trôi đi.

Gió ngừng.

Mây Xám biến sạch.

Tôi có thể thở được.

Không phải những hơi thở gấp gáp đầy thận trọng, mà có thể hít đầy phổi làn không khí mát lành. Không còn bị Mây Xám bao bọc, mặt trời chiếu qua các tòa tháp ở Piltover xuống tới tận Zaun.

Tôi có thể thấy dân Piltover bên trên ngó xuống chúng tôi. Không có Mây Xám che khuất tầm nhìn, họ có thể thấy chúng tôi từ trên cầu và ban công. Tôi không nghĩ họ thích điều đó lắm đâu. Không ai muốn bị nhắc rằng mình sống bên trên một khu ổ chuột; tôi thấy vài cái quắc mắt đe dọa.

Tôi lại thấy ông ta: Boswell Holloran. Cầm bánh ngọt trên tay, lại nhìn xuống tôi. Biểu cảm ghê tởm trên khuôn mặt, y như trước đây.

Tôi quá bận nhìn vẻ mặt khinh thị ấy đến nỗi không nhận ra có người đứng sau đến khi tay cô đặt lên vai tôi.

“Ổn rồi,” cô nói, tôi biết đó là ai mà không cần ngoảnh lại.

Cô xiết chặt vai tôi, rồi khuỵu gối xuống và vòng tay trước ngực tôi, ôm chặt.

“Sẽ ổn thôi,” cô nói.

Tóc cô phủ lên vai tôi. Mùi hương như không khí sau cơn mưa dài.

“Giờ thì có thể không ổn. Em có thể không ổn một thời gian nữa. Chẳng sao cả. Một ngày, không rõ khi nào, tại sao hay làm thế nào nó xảy ra, em sẽ thấy hạnh phúc,” cô nói. Cảm giác ấm áp vuốt nhẹ khuôn mặt, tôi không biết mình bật khóc từ bao giờ, nhưng nó thật nhẹ nhõm, như mây mù đã tan. Tôi cầm tay cô và cô cầm tay tôi, cứ nhắc đi nhắc lại rằng mọi chuyện sẽ ổn, cô đang ở đây, mọi chuyện sẽ tốt hơn.

Tôi không biết đã trải qua bao lâu, nhưng rất nhanh tôi thấy mọi người ở Tầng Xép của Zaun và ban công của Piltover phía trên đang nhìn chằm chằm.

Trước khi tôi kịp cất lời, cô nói, “Đừng để ý họ. Cứ lo cho em thôi. Em sẽ làm điều đó vì chị chứ?”

Tôi cố nói, nhưng chỉ biết gật đầu.

“Cảm ơn,” tôi nói, và cô hôn lên gò má đẫm lệ của tôi, ôm tôi một lần nữa.

Cô đứng dậy, sải bước đi qua tôi. Lần đầu tiên tôi thấy cô hoàn toàn – dáng người cao, siêu thực đến nỗi tôi đã cho đó là tưởng tượng nếu cô không vừa chạm vào tôi. Tôi nhìn được đôi tai dài nhọn. Đôi chân không chạm đất. Tóc tung bay trong gió, dù hiện giờ chẳng có chút gió nào. Đôi mắt xanh thẳm đến nỗi tôi cảm thấy hơi lạnh khi nhìn vào đấy.

Rồi cô mỉm cười, nháy mắt và nói, “Chị muốn em chiêm ngưỡng cảnh tiếp theo.”

Một cơn cuồng phong dữ dội nổi lên, mạnh đến mức tôi phải che mắt. Khi tôi mở mắt ra lần nữa, cô đã đi mất, nhưng gió vẫn thổi. Nó thổi về hướng Piltover và những cư dân rụt rè tại đó.

Gió rít lên khi tăng dần tốc độ và cường độ. Dân Piltover chạy đi tìm chỗ nấp nhưng đã quá trễ, luồng khí lưu toàn lực quất vào họ, giật áo khoác họ tung lên trời và làm đầu tóc họ rối bù. Boswell Holloran la thất thanh khi gió quật ông ta khỏi ban công.

Cứ tưởng ông ta chết chắc, nhưng một cơn gió khác đã phóng tới, làm giảm đáng kể sức rơi, như thể đang dẫn dắt ông ta chạm đất. Dù vậy, chỉ nhìn vào ông ta thì bạn sẽ không biết được đâu. Thậm chí khi rơi với vận tốc của một chiếc lá lìa cành, ông ta vẫn cuống cuồng gào thét. Giọng cao ghê gớm. Mất phẩm giá cũng ghê gớm luôn.

Quần áo lật tung lên, đập vào mặt ông ta trên đường rơi, cho đến khi ông ta lơ lửng cách vũng nước vài phân.

“Ta…,” ông ta mở miệng, trước khi cơn gió tan biến và ông ta ngã dập mông xuống vũng nước, làm hỏng một thứ tôi cho là rất đắt giá. ông ta kêu la trong sự pha trộn giữa ngạc nhiên, đau đớn, và cáu giận, phủi phủi khắp nơi như một đứa trẻ nổi đóa. ông ta cố đứng lên, nhưng trượt chân và ngã thêm vài lần nữa. Tôi phải hoàn toàn thành thực, trông ông ta trông giống một gã ngốc.

Tôi chẳng thể ngừng cười.

Truyện Ngắn Janna 2: THÀNH PHỐ KÍNH VÀ SẮT

TÁC GIẢ: GRAHAM MCNEILL

“Nhanh lên, Wyn!” Janke hét lớn. “Gió Hú Dâng Cao đang đến!”

“Em biết!” nó hét trả. “Không cần anh nói đâu!”

Wyn có thể nghe tiếng sắt tra dầu kêu ken két và thấy răng ngứa ran vị kim loại. Phần bên trong ống thông gió nó đang trèo lên rung lắc khi thang máy ma-kỹ-lực đến gần.

Nó ép lưng vào nền sắt ấn chặt đôi chân đang đau nhức sang phía bên kia. Nó ngước lên, ô vuông ánh sáng, lối ra khỏi ống, dường như quá xa vời. Một gương mặt ló ra phía trên; anh trai nó, Nico.

“Gần đến rồi, nhóc,” Nico nói, rướn người ra để chìa tay cho Wyn. “Cần anh xuống hả?”

Wyn lắc đầu, cố sức giữ thẳng sống lưng trong lúc các cơ bắp nơi chân bỏng rát. Từng bước một, nó lần mò leo lên đến khi đủ tầm với lấy tay anh trai.

Nico túm cổ tay nó kéo mạnh, lôi ra khỏi đường ống. Wyn hạ cánh hơi tệ và ngã lộn nhào, lụp chụp trong cái hốc bên hông vách đá mà đứa trẻ Zaun nào cũng biết. Khoảng không vừa đủ rộng để chúng đứng ríu rít lại với nhau sát rìa dốc đứng. Chừng mười thước ngoài kia là ba cột trụ thang máy, mỗi cái rộng hai thước và làm từ sắt tinh luyện.

Feen đứng tít chỗ xa nhất của gờ đá, đang nhìn xuống với một nụ cười điên khùng. Gió cuồn cuộn quanh nó, bộ quần áo vá chằng vá đụp bay phần phật, tóc tai rối bù. Kez đứng cạnh Nico, má ửng hồng phấn khích. Janke lo lắng đập đập bàn tay lên bắp đùi, quắc mắt ngó Wyn.

“Suýt nữa mày làm bọn tao bỏ lỡ nó rồi.”

“Gió Hú còn chưa đến,” Wyn gắt. “Chúng ta chẳng bỏ lỡ gì cả.”

Janke nhìn Wyn trừng trừng, nhưng Nico đang ở đây nên nó không dám nói hay làm gì cả. Ở Nhà Hy Vọng cho Trẻ Bị Bỏ Rơi, Janke là một tay du côn thứ thiệt, đôi khi có một tay du côn bên cạnh cũng hữu ích khi đám thủ hạ rẻ tiền của Hóa-Chủ nghênh ngang khắp nơi.

Kez đưa tay ra giúp Wyn đứng lên. Nó mỉm cười cầm tay cô.

“Cảm ơn,” nó nói.

“Rất vui lòng,” cô đáp, dựa người vào trong cho bớt ồn.

Wyn ngửi thấy mùi xà phòng cô bé dùng sáng nay – như nước chanh hóa học vậy. Xét đến tính chất của chuyến đi chơi này, cô còn cố gắng ăn diện thêm khi lục lọi được một bộ cánh cũ từ đống thùng quần áo bỏ đi bởi những đứa trẻ không mặc vừa nữa, hoặc đã rời nhà tình thương lúc đủ tuổi. Wyn phủi sạch phần lớn bụi bặm, nhưng nó chợt thấy mình quá lôi thôi khi đứng cạnh Kez.

“Tớ chưa từng cưỡi Gió Hú cả,” cô nói, vẫn nắm chặt tay nó. “Cậu thì sao?”

Tiếng gầm rít mỗi lúc một to hơn. Tiếng cơ cấu thang máy kêu loảng xoảng, vang vọng chói tai giữa những bức vách ẩm ướt phủ đầy rêu của hốc đá. Feen ngoái lại nhìn nó còn Janke nặn ra một nụ cười nham nhở. Nỗi sợ trông giống một thằng nhóc ngu ngốc khiến lời nói dối buột ra dễ dàng hơn.

“Tớ á? Có, cả tỉ lần rồi!” nó nói, biết ngay mình vừa mắc sai lầm. Wyn liếc qua vai. Những người khác đang xúm xít bên rìa; chân căng ra cố trụ vững trước gió.

Wyn ghé sát vào tai Kez.

“Xin lỗi, tớ không biết sao mình lại nói thế,” cậu thì thầm. “Trước giờ tớ chưa từng làm chuyện này. Chưa một lần nào. Đừng bảo mấy người kia nhé, tớ đang run như cầy sấy đây.”

Cô bé thở phào nhẹ nhõm.

“Tốt. Tớ không muốn là người duy nhất đâu.”

Cưỡi Gió Hú Dâng Cao là một nghi thức trưởng thành cho đám trẻ Zaun. Cũng như leo lên đỉnh Khao Khát Cũ mà tay chân vẫn lành lặn, rạch túi tay chân của một Hóa-Chủ hoặc chơi trò đánh-rồi-chạy với một tên thợ-săn-hầm đi cà kheo. Dường như Zaun có vô số thử thách nguy hiểm đến điên rồ bạn phải vượt qua để thực sự được coi là một đứa trẻ đường phố cứng cỏi.

Thu hết can đảm nhảy từ vách núi lởm chởm xuống, với Wyn thử thách này là điên rồ nhất. Âm thanh gầm gừ của thang máy đang đến lại to thêm, lấp đầy hốc đá với tiếng rít của kim loại nghiến lên kim loại và tiếng nổ ầm ầm của các thiết bị đang hoạt động.

Nico đứng dậy, thò đầu ra ngoài ngó xuống, rồi quay lại với một nụ cười kỳ dị và giơ ngón cái lên. Anh khuỵu gối xuống, buông mình rời chỗ đứng an toàn. Chân tay dang rộng, anh rơi khuất tầm nhìn. Không muốn bị vượt mặt, Janke tiếp bước nhảy khỏi gờ đá trong tiếng hét hoang dại. Feen theo sau bạn nó, cười như điên.

“Sẵn sàng chưa?” Wyn nói lớn, tiếng nó bị Gió Hú Dâng Cao nhấn chìm.

Kez gật đầu. Cô không thể nghe được nó, nhưng thông điệp thì quá rõ ràng. Cô vẫn chưa buông tay nó ra. Nó nhe răng cười, và cả hai chạy thẳng về phía bờ rìa. Tim Wyn đập như gõ trống trong lồng ngực. Bước chân nó ngập ngừng, nhưng đã quá trễ để dừng lại. Nó dậm mạnh, bay vào không trung, bật ra một tiếng gầm thách thức pha lẫn sợ hãi và can đảm.

Mặt đất biến mất phía dưới. Chỉ có gió thổi giữa nó và các tầng thấp hơn ở Zaun, cách đến hàng trăm thước. Nỗi sợ tuyệt đối siết lấy Wyn. Nó kẹp chặt như gọng kìm, tống sạch không khí ra khỏi phổi. Wyn thấy mình lộn nhào, tay chới với như chim vách đá đột ngột học bay. Nó nhìn xuống. Gió Hú Dâng Cao hình quả trứng, làm từ kính và sắt đang vùn vụt lao lên.

Nico, Janke, và Feen đã ở sẵn trên thang máy, đang bấu chặt lấy bộ khung lưới kỳ cục hoặc dán chặt người vào kết cấu của nó. Wyn đâm sầm vào lớp kính dày, lăn vòng vòng. Nó khua tay tìm chỗ bám, trượt xuống đoạn uốn cong chỗ cửa sổ ngoài. Bàn tay đẫm mồ hôi, trơn trợt. Nó quờ quạng mong một điểm tựa. Bất kỳ thứ gì hãm bớt tốc độ đi xuống.

Chẳng có gì cả.

“Không, không, không…” nó thở gấp, tuột dần ra ngoài. “Janna rủ lòng thương!”

Một cơn gió thốc thổi qua mặt, nó thoáng thấy cái móc đồng đứng kiêu hãnh bên hông thang máy khổng lồ. Nó quăng người sang, và dường như ngọn gió sau lưng đã cho nó vừa đủ lực đẩy để chạm tới. Ngón tay nó bíu chặt lấy kim loại, cú rơi chết người được ngăn chặn trong gang tấc.

Khi đã tránh được mối nguy của một chuyến bay dài cùng pha va chạm mãnh liệt sau đó, Wyn cuối cùng cũng lấy lại cảm giác chân, nhìn quanh tìm Kez. Nó thấy cô đứng phía trên, bật cười kích động khi vượt qua thử thách. Wyn thấy một thôi thúc trỗi dậy, nó không thể ngừng nhăn nhở như tâm thần khi leo lên bề mặt ít góc cạnh hơn của Gió Hú Dâng Cao.

Nico hò reo khi thấy nó và đấm vào cánh tay Janke.

“Thấy chưa? Đã bảo nó làm được mà!”

Wyn đến bên anh trai, chân nó nhũn ra như một bợm nhậu vừa chè chén suốt đêm. Nó hít một hơi dài. Bên dưới Hầm Thấp, không khí vẩn đục, nhưng lên cao hơn thì thật trong lành, làm đầu óc nó nhẹ bỗng.

“Không tệ, nhóc, không tệ đâu,” Nico vỗ mạnh lên lưng nó. Anh trai ho và khạc ra một bãi đờm xám lên tấm kính. Nico lấy mu bàn tay chùi miệng, Wyn không thể không nhận ra phần bã nhờn ghê ghê còn sót lại.

“Vâng, chuyện vặt,” Wyn nói.

Nico bật cười khi thấy nó cố tỏ ra can đảm. “Cũng đáng, nhỉ?”

“Đẹp thật,” Kez trầm trồ.

Wyn phải đồng ý. Xa xa bên dưới, khu vực này của Zaun trải dài trên nền đá của hẻm vực thành một dải ánh sáng và màu sắc lấp lánh xanh ve chai. Cầu vồng hơi nước vắt trên Rừng Xưởng và đám khói lung linh xoắn ốc nhảy múa từ các hóa-lò. Ở trên đây, vũng hầm gợn sóng như những ảo tượng ngọc bích, còn đám đèn sưởi nhấp nháy trong bóng tối như những ngôi sao trời nó hiếm khi nhìn thấy tại Nhà Hy Vọng.

Mắt Wyn ngấn lệ, nó tự nhủ là do gió buốt. Tít bên trên, Piltover sáng chói với những tòa tháp bằng ngà và đồng, vàng và đồng thau. Zaun cũng đẹp như thế, nhưng là vẻ đẹp nội tại. Những con phố đông nghẹt người, tràn ngập sức sống, chở nặng biết bao nhân tính sôi động. Wyn yêu mến Zaun. Với tất cả những thiếu sót trong thành phố này, nghĩa là rất nhiều, sự khó đoán và cởi mở đến tột cùng của nó đem lại cảm xúc bạn khó lòng tìm được tại Piltover.

Wyn nhìn qua tấm kính dưới chân để thấy cả đống người chằm chằm ngó lại. Những hành khách của Gió Hú Dâng Cao đã quen với việc có kẻ nhảy ầm ầm lên nóc chiếc thang máy đang đi lên, nhưng thế không có nghĩa họ thích điều đó. Một số ít là dân Zaun, nhưng đa số là dân Piltover bảnh chọe trở về nhà sau khi dành cả tối ở các lối vòm náo nhiệt, các tiệm ăn trần kính, hay các sảnh nhạc của Zaun.

“Bọn Pilty chết tiệt,” Janke nói. “Xuống ăn chơi ở Zaun. Cứ nghĩ chúng đang sống giữa nguy hiểm, nhưng lại cúp đuôi chạy về Piltover ngay khi đêm tàn.”

“Tiền sẽ chảy xuống Zaun ít đi nhiều nếu họ không làm thế,” Kez lên tiếng. “Dân Piltover vui vẻ khi ở Zaun, và ngược lại. Chúng ta đã có bao nhiêu ngày thú vị trên Piltover? Có nhớ pháo hoa trên Cổng Mặt Trời trong Ngày Tiến Bộ trước không? Có nhớ cô nàng Piltover anh chết mê chết mệt không? Nói thì hay lắm, Janke, nhưng anh là người luôn muốn chúng ta đi lên trên.

Cả bọn bật cười còn Janke đỏ mặt tía tai.

“Tao sẽ cho chúng vài thứ để xem!” Feen nhe răng cười, nói. Thằng nhóc còm nhom tháo dây nịt ra khỏi vai, tụt quần xuống, và ngồi ịn mông lên trần kính. “Ê, bọn Pilty, trăng đêm nay mới mọc nè!”

Rồi như một chú chó lê mông trên mặt đất, Feen trượt dọc theo mặt kính, nguyên phần sau lồ lộ ra trước cặp mắt của đám người bên dưới.

Lũ trẻ rống lên cười trước biểu cảm ghê tởm của nhóm hành khách – người lớn che mắt con cái của họ lại và dứ dứ nắm đấm vào mấy đứa Zaun tục tĩu.

“Chúng ta sẽ không đi thẳng lên,” Nico dừng lại lấy hơi và chùi nước mắt. “Chỗ Babette ở tầng Gác Xép.”

“Chúng ta còn không chắc Má Elodie có đó không,” Janke nói.

“Bà sẽ ở đó,” Wyn nói. “Em đã thấy vé trên bàn bà. Hình vẽ bà đang hát trên sân khấu, chắc như bắp. Nhưng chúng ta phải nhanh lên, bà sẽ đến lúc hồi chuông thứ tám mà giờ đã là sáu rồi!”

Má Elodie là chủ Nhà Hy Vọng, một nhà tình thương cưu mang nhiều trẻ mồ côi trong thảm họa đã phá nát Zaun. Ban đầu, nó được tài trợ bởi những người sau này sẽ trở thành chủ nhân của Piltover để chăm lo cho hơn hai trăm đứa nhóc cơ nhỡ. Nhưng thành lập được một thế kỷ, của cải nơi này dần cạn kiệt khi dòng tiền từ thành phố mới ngừng rót xuống. Các gia tộc giàu có trên kia cuối cùng cũng quyết định họ đã bù đắp đủ vàng cho tội lỗi của mình, và thế là thôi.

Má Elodie là nhân viên duy nhất ở lại khi ngân quỹ sạch bách, một phụ nữ da màu bảo mình từng là công chúa Ionia. Wyn ngờ rằng đó chỉ là câu chuyện để rù quến các Hóa-Chủ quyên góp, nhưng nó rất thích thú khi bà kể đã chọn đi thăm thú thế gian thay vì sống nhàm chán trong cung điện ra sao. Wyn không thể tưởng tượng người ta lại quay lưng với giàu sang như thế được, nhưng nó chưa từng gặp ai từ Ionia – ngay cả khi làm chân chạy vặt cho các nhà hải hành dưới bến cảng.

Mọi thành viên của Nhà Hy Vọng cũng từng nghe Má Elodie hát lúc nấu nướng dọn dẹp. Giọng bà thật lạ thường, và Wyn luôn ngủ thiếp đi trong tiếng ru của bà khi còn là đứa trẻ ẵm ngửa. Wyn đang mang tách trà thảo dược lên cho bà thì thấy tấm vé gấp của Đại Sân Khấu Babette nhét dưới một đống thư. Nó chỉ kịp liếc qua, nhưng nó dám thề một rương vàng rằng đó là Má Elodie, diện bộ đồ lộng lẫy nhất và hát trên sân khấu rực rỡ ánh đèn. Bà bắt gặp ánh nhìn đó, mắng nó gây ồn rồi véo tai đuổi nó ra ngoài.

Nó kể lại cho mọi người, và chỉ trong một giờ chúng đã lên kế hoạch lẻn ra xem bà hát.

“Nhìn kìa!” Wyn hét lên, huých vào sườn Nico.

Nico ngó xuống, gật đầu khi thấy người hướng dẫn mặc đồng phục đang hét vào ống nói.

“Lão cảnh báo nhân viên phía trên coi chừng dân Zaun trốn vé,” Nico nói. “Chẳng sao. Nhớ là chúng ta không đi thẳng lên chỗ thang dừng lại.”

“Thế xuống chỗ nào giờ?” Feen hỏi, vỗ vỗ đùi và, ơn trời, đã kéo quần lên.

“Có một cơ cấu dây tời cũ ngay bên dưới chỗ thang lên,” Nico nói, chỉ phía trên. “Miếng chụp khá bằng phẳng rộng rãi, và ngay cạnh đó là một ống thông gió bị mất nắp che.”

“Lại phải nhảy ạ?” Wyn hỏi.

Nico cười, nháy mắt.

“Ừ, sẽ không thành vấn đề với dân chuyên nửa mùa như em nhỉ?”

Wyn rùng mình thở hắt ra, bàn tay rướm máu ở nơi phải bám vào miếng chụp rỉ sét của bộ tời. Cú nhảy thứ hai vào khoảng không cũng làm nó sợ đến thắt ruột như thế, nhưng ít nhất lần này nó biết mình có thể làm được. Gió Hú Dâng Cao tiếp tục đường đi lên, và Wyn thật mừng khi thấy thang máy rời đi.

Quay trở xuống Zaun giờ sẽ dễ dàng hơn. Bọn trẻ phải dò dẫm theo vách đá dựng đứng, hoặc men theo những bậc thang cao chóng mặt dẫn qua những kiến trúc có giàn đỡ cheo leo bên hông núi.

Miếng chụp bộ tời nằm ngay cạnh ống thông gió mở rộng, y như Nico đã nói. Bên trong nồng nặc mùi hóa chất độc hại thải ra, nhưng ít nhất cũng gần như khô ráo. Thật may, nó đủ lớn để đứng thẳng người, đồng nghĩa với việc nó từng mang theo hàng đống rác rưởi và tống thẳng xuống Zaun.

“Cái này dẫn tới đâu?” Kez hỏi, cẩn thận tránh đống chất nhầy xanh xanh đọng thành vũng ở chỗ sắt lõm xuống.

“Ngay phía sau Trạm Bơm Bonscutt, anh đoán thế,” Nico trả lời.

“Đoán hả?” Janke nói. “Tưởng mày từng làm chuyện này trước đây rồi?”

“Tao có, nhưng chừng một năm trước và tao không chắc mọi thứ có còn như cũ không.”

Chúng đi theo đường ống ngoằn ngoèo hếch lên xuyên qua núi. Kim loại kêu rền rĩ theo mỗi chuyển động trong vách đá.

“Vách đá lại thì thầm rồi,” Kez nói.

“Chúng nói gì?” Wyn hỏi.

“Không ai biết cả,” cô trả lời. “Má Elodie từng bảo tớ đá vẫn buồn về chuyện đã xảy ra khi họ chia đôi nơi này để tạo nên con kênh. Bà bảo thỉnh thoảng, khi nỗi sầu của đá quá lớn, nó thổn thức, và làm mặt đất rung chuyển.”

“Vậy tất cả những gì mày biết là ở cuối đường ống này có thể là một bức tường đá hoặc một rào cản hoặc một đống kim loại xoắn xít?” Janke hỏi.

“Có thể,” Nico đáp. “Nhưng tao ngờ lắm. Nhìn kìa.”

Nico chỉ vào một vệt sáng mỏng manh phía trước. Bụi bay thơ thẩn trong không khí, và Wyn thấy một cái thang rỉ sét nhô lên thành một lối ngang giữa đường ống.

“Xem chừng chúng ta tìm được đường ra rồi,” Nico nói.

Wyn mới chỉ lên tầng Gác Xép của Zaun một hai lần trong đời, và mỗi lần đều để lại một ấn tượng cực kỳ sống động trong nó. Nằm ngay bên dưới biên giới lừng danh giưa Piltover và Zaun – một lằn ranh không ngừng thay đổi – Gác Xép là trung tâm giải trí sầm uất với những lối vòm thương mại toàn cầu, những cửa hàng ăn tối, những sảnh thơ và những nhà vui vẻ, khiến nó lá một trong những quận đông dân nhất thành phố. Đó cũng được đông đảo người sống và làm việc vất vả tại đây coi là nơi những công việc thực sự của Zaun được giải quyết.

Ló ra khỏi đường ống, bọn trẻ nhanh chóng thu dọn đồ đạc và hướng đến một đường chính. Wyn và Kez là hai đứa duy nhất biết đọc đủ để giải mã những biển tên đường bay bướm. Kez dẫn chúng qua một đại lộ đây những con người lạ kỳ Wyn chưa từng thấy.

Đàn ông đàn bà từ cả Piltover lẫn Zaun vui vẻ hòa vào nhau trên con phố lát sỏi, ăn mặc quần áo đủ màu và đội mũ lông. Đàn bà mặc váy xếp với vòng cổ và thắt lưng rực rỡ. Đàn ông nhìn như đang lướt đi trong bộ áo chùng dài và đôi ủng bóng lộn sẽ không thể trụ nổi một ngày trong đống bùn dưới kia.

“Mọi người đều cười,” nó nói, khóe miệng nhoẻn lên bắt chước. “Cười to nữa.”

“Mày cũng sẽ cười thôi nếu không phải lo kiếm miếng ăn mỗi ngày,” Janke nói.

Wyn định đáp trả, nhưng Nico lắc đầu. Janke đã ở Nhà Hy Vọng lâu hết hầu hết lũ trẻ, và giờ sắp phải rời đi tìm con đường riêng giữa thế giới. Khỏi phải nói vì sao nó gay gắt đến vậy.

Wyn hiểu nỗi cay đắng đó. Sau cùng, ai mà chẳng muốn nhiều hơn những gì họ có? Ai mà chẳng muốn sống đâu đó tốt đẹp hơn nếu có thể? Thực tế khắc nghiệt của cuộc đời là con người cố gắng sống ở mức cao nhất khả năng họ cho phép. Phần lớn đều hài lòng với vị trí của họ trong bức tranh toàn cảnh, nhưng Wyn luôn mong mỏi có thể tay trong tay với một cô gái xinh đẹp, tham dự một buổi diễn, và ăn một bữa dưới ánh trăng ở bất kỳ nơi nào nó muốn.

Bất giác nó nắm tay Kez, và khi cô không giằng ra, tim nó đập còn mạnh hơn cả khi nhảy lần đầu tiên. Nico dẫn cả bọn rảo bước qua trung tâm khu phố như thể hoàn toàn có quyền có mặt ở đây. Tất nhiên chúng có quyền rồi, nhưng bộ quần áo rách rưới của chúng thu hút những ánh nhìn tỏ rõ rằng, dù không bị xua đuổi, chúng chắc chắn không được chào đón.

Mất một lát, Wyn tưởng tượng chúng có thể ở lại đây mãi, đi dọc khu phố đầy những ngọn hóa-đăng lung linh, bao quanh bởi những con người có thể dẫn chúng tới cửa hàng đầy những món ngon lạ lùng nhất, hay khuyên chúng nên đi xem vở kịch nào. Nó vẽ ra hình ảnh mình ăn mặc như những cư dân lịch thiệp kia và ngả mũ chào đại diện các gia tộc.

“Đó là vườn kính phải không?” Wyn nói, chỉ vào một mái vòm kính mờ dựa vào rìa vách đá.

“Tớ nghĩ thế,” Kez nói. “Tớ mới chỉ thấy chúng từ phía dưới thôi.”

Một cây cầu sắt và dây cáp dày nối vòm kính vào đá núi, chúng dừng chân chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những gì chứa bên trong. Đằng sau lớp kính, một khu rừng nhỏ những thân cây cao vút với vòm lá rậm rạp đang được chăm chút bởi một người làm vườn đầu cạo trọc với hình xăm trên người. Hoa mọc tràn ngập, những cánh đỏ, vàng, xanh nổi bật lên giữa tấm thảm xanh. Cả đời Wyn chưa từng thấy thứ gì đẹp đến thế. Nó vẫy tay với người làm vườn, ước gì nó có thể đi cùng Kez qua khu rừng, ngửi hương hoa nở rộ và cảm nhận cỏ mềm giữa kẽ ngón chân.

Người làm vườn mỉm cười, vẫy tay trước khi quay lại làm việc.

Một hồi chuông vang lên. Wyn đếm có bảy tiếng cả thảy.

“Đi thôi,” nó hối thúc. “Buổi diễn sẽ sớm bắt đầu.”

Janke quay sang Nico. “Có chắc mày biết chỗ đó không?”

“Babette hả? Có, tao biết,” Nico nói, che miệng khi lại ho lần nữa. “Tao đã đưa Aleeza đến đó một lần, khi có vài đồng trong túi sau khi hạ một tay lái buôn Bel’Zhun trong cuộc thi uống.”

Wyn vẫn nhớ đêm đó, nó quan sát một cách khó tin trong lúc anh trai nốc hết cốc này đến cốc khác thứ kouaxi, một loại rượu mạnh mà người Shurima nói là làm từ sữa dê. Phải mất hai mươi cốc tay lái buôn mới gục. Nico đã say xỉn cả tuần trước khi có thể tiêu số tiền thắng được.

“Ngay trên này,” Nico nói lúc chúng bước vào một quảng trường đục vào vách đá.

Người chật kín không gian rộng lớn, trò chuyện, thương thảo và mặc cả đủ thứ chuyện. Vài kẻ có nâng cấp kim loại sải bước qua quảng trước, mang trên người dấu ấn của một Hóa-Chủ, nhưng rất ít ỏi và thu hút cực kỳ nhiều ánh nhìn cảnh giác.

Ở tít cuối quảng trường là một kiến trúc vĩ đại màu sắc sống động và ồn ào. Những người bán vé rao mời mọi người vào mua. Những cột trụ cẩm thạch đen vân vàng tạo nên cổng lớn, trên đó là một dãy tượng động vật hoang dã, rồng, và chiến binh mang giáp. Hóa-đăng màu xanh soi sáng chúng, và ngọn lửa dập dờn khiến chúng trông sống động.

“Xin giới thiệu Đại Sân Khấu Babette,” Nico nói, cúi mình và chỉ về phía tòa nhà sáng ánh đèn.

“Ông bảo chúng tôi không thể vào là sao?” Nico nói.

Hai tên gác cổng đều ăn mặc chỉnh tề, nhưng chẳng che giấu nổi kinh nghiệm làm đau người khác của họ. Hình xăm rắn phủ trên cổ và cánh tay, và một người sở hữu cánh tay cơ khí xì xì tiếng điện tích bên trong. Gậy chích thì phải? Hay cái gì đó chết chóc hơn? Hay đơn giản nó chỉ hoạt động không tốt lắm thôi.

“Chúng tôi có tiền mua vé mà,” Kez nói.

“Không phải chuyện tiền nong đâu cô bé,” tên gác cổng đầu nói, Wyn đặt tên cho hắn là Hóa-Thở.

“Thế thì chuyện gì?” cô dò hỏi.

“Các vị ăn mặc không tử tế.”

“Đúng vậy,” tên gác cổng thứ hai tiếp lời, kẻ có cánh tay máy kêu xèo xèo. “Bà chủ Babette yêu cầu một mức độ nhất định về… vệ sinh trong cách lựa chọn quần áo của các vị khách. Tôi e các vị nằm dưới tiêu chuẩn một chút.”

“Phải, nên bò về chỗ các vị từ đó đến đi,” người đầu tiên nói.

“Chỗ chúng tôi từ đó đến,” Kez ngờ vực nói. “Đây là Zaun phải không? Đây là nơi chúng tôi từ đó đến, đồ hút-hầm ngu ngốc!”

“Biến đi, bọn chuột,” Hóa-Thở nói. “Phần này của Zaun không phải Zaun của bọn mi.”

“Được,” Nico quay người bỏ đi. “Đi thôi.”

“Gì, chờ đã?” Wyn nói khi cùng những người khác chạy theo Nico. “Chúng ta cứ thế về nhà hả?”

Anh trai cậu chờ đến khi cả bọn ra khỏi tầm nghe rồi mới trả lời, đảm bảo đám đông ở lối vào chắn cho chúng khỏi hai tên gác cổng.

“Tất nhiên là không,” Nico nói. “Anh ngốc thật. Quên mất luật trước hết của Hầm: chỉ kẻ có tiếng mới đi qua cửa trước.”

Đám trẻ đi dọc chiều dài quảng trường suốt mười phút trước khi tìm ra cái chúng đang kiếm. Wyn luôn để mắt đến cổng nhà hát. Mọi người vẫn đi vào, nên buổi diễn chắc chưa bắt đầu đâu.

“Kia,” Feen nói, chỉ vào một cột khói lục bảo cuộn lên từ dãy mái nhà gần đó. Feen làm cho Thợ-Săn-Xám Malkev, người bảo trì đường ống đã chỉ cho nó cách trườn qua ống hẹp và dọn sạch rác rến khi ống thở bị nghẹt.

Nguồn gốc của cột khói là một tiệm ăn nhìn như thể phục vụ hỗn hợp thức ăn đường phố Zaun và ẩm thực cấp cao Piltover. Thực khách uể oải, kiểu nghệ sĩ, và thức ăn trông quá đẹp để ăn.

“Có một đường ống chung nếu tao còn nhớ,” Feen nói. “Thấy không, bọn mày có thể ngửi thấy mùi thức ăn từ bếp và mùi lò tinh thể chạy ở Babette.”

“Đó là lý do bọn tao mang mày theo mà, Feen,” Nico nói, dẫn cả lũ vào con hẻm cắt qua vách đá giữa tiệm ăn và nhà hát. Những thùng hàng nặng nề được kéo từ bên cảng lên đang chất đống cạnh tường, và những đường ống phun phì phì bên trên. Những con người vạm vỡ đang chuyển thùng vào, rên rỉ vì gắng sức. Không ai thèm liếc lũ trẻ đến hai lần.

Feen dùng ngón tay lần theo dấu ống dẫn, tính toán và lắng nghe chúng kêu ùng ục và lạo xạo. Nó hít hít không khí, nhe răng cười.

“Đây rồi,” nó nói, chỉ vào ống thông gió hẹp vắt ngang qua mặt đá.

“Chắc chứ,” Janke hỏi. “Tao không muốn mày chọn sai rồi để tụi tao bị xấu mặt khắp Zaun đâu.”

“Sai làm sao được,” Feen nói. “Cứ bò qua đủ loại bồ hóng và chất nhầy như tao đi, bọn mày sẽ ngửi được ngay mùi nào dẫn đến đâu.”

Chúng đợi đến khi những người làm việc cho tiệm ăn nghỉ tay trước khi dùng đống thùng để leo lên mái. Feen nhanh chóng tìm ra một lỗ chui trên đường ống và mở tung nó ra. Wyn tái nhợt đi vì đám khói dò ra từ cái lỗ.

“An toàn không?” nó hỏi.

“Đủ an toàn cho một nhóc-hầm,” Feen nói. “Tin tao đi, phổi mày sẽ nhiều sạn khi đi trên Đường Đen hơn là trong đám khói ở đây.”

Wyn không chắc lắm, nhưng Feen đã bò vào trong, Janke và Kez nhanh chóng theo sau. Nico vung tay về phía đường ống.

“Đến lượt em đấy nhóc,” Nico nói.

Wyn gật đầu và leo vào trong, đi theo âm thanh của đầu gối gõ lộp cộp, chửi thề và ho khan. Feen đúng một chuyện: không khí trong đây đặc quánh, nhưng không có gì giống như lúc Mây Xám sà xuống biến mỗi lần hô hấp thành một trận chiến. Nico bò phía sau nó theo một nhịp điệu ổn định bằng cùi chỏ và đầu gối. Ánh sáng lọt qua khe nứt trên bề mặt kim loại, nhưng vụt tắt ngay khi đường ống luồn vào trong vách đá.

“Còn bao xa?” Nico gọi từ phía sau, tiếng anh vang vọng kỳ dị trong đường ống. Không ai đáp lại ngoài tiếng vọng. Wyn cố không nghĩ đến đủ loại lý do vì sao chỉ có sự im lặng. Đường ống kết thúc bên ngoài vách đá như Janke vẫn sợ sao? Hay những người khác trúng phải khí ga khiến họ ngạt thở? Hoặc có thể đá núi tại đây cũng buồn, và quyết định nghiền nát những thân hình nhỏ bé đang bò qua chúng.

Ngay trước khi suy nghĩ bị đè chết bởi vách đá u sầu khiến Wyn sợ đến tê liệt, một bàn tay thò xuống và túm lấy cổ áo nó.

“Túm được rồi!” một giọng nói rít lên khi nó được kéo qua một lỗ hổng khó lòng nhìn thấy trong bóng tối. Nó hét lớn báo động và vùng vẫy trước khi nhận ra là Janke đang lôi nó. Nó bị ném xuống sàn gỗ một căn phòng tối om. Không, không hoàn toàn, một dải sáng mỏng chiếu ra bên dưới cửa vào gần đó. Khi mắt Wyn điều tiết lại, nó nhìn thấy một đống đồ linh tinh của những người biểu diễn chất ngổn ngang quanh phòng; hết giá này đến giá kia những mặt nạ, phục trang, phông màn sân khấu và đồ diễn.

Feen bật cười nhảy nhót quanh phòng với thân trước một con ngựa hóa trang trên đầu. Kez đội vương miện vàng với ngọc giả đính xung quanh và một viên đá đỏ sáng ở chính giữa. Janke vung vẩy thanh kiếm gỗ, lưỡi kiếm được sơn cho giống bạc lấp lánh.

Wyn cười với Nico khi anh trèo khỏi đường ống đằng sau. Nó thấy nhẹ nhõm, nhưng không thể nói chắc đó là do đám khói hay sự phấn chấn vì lọt vào bên trong.

“Làm tốt lắm, Feen,” Nico nói, phủi bụi trên người và họ ra một bãi đờm xám.

Feen vứt bộ hóa trang ngựa và tươi cười trước lời khen ngợi hiếm hoi này. Nó định nói, nhưng chúng đã nghe thấy tiếng kèn trống vang lên.

“Bắt đầu rồi,” Kez nói.

Nội thất của Babette không kém phần ấn tượng so với mặt tiền. Sảnh chính được trang trí bằng những dải lụa đủ màu, những ban công mạ vàng, và một mái vòm vẽ bức tranh đẹp mê người của rừng rậm, núi cao, và hồ nước màu xanh sâu thẳm. Một đèn chùm khổng lồ làm từ những viên tinh thể lấp lánh nằm chính giữa trần, những chòm sao quay vòng đưa những chùm đầy mảnh sáng đi khắp khán phòng.

Hàng trăm chỗ ngồi đã chật kín, những con người ăn mặc thời thượng, những vũ công đang cởi bỏ áo khoác ngoài và cởi bỏ cả sự căng thẳng. Sân khấu cao ở một đầu được dành cho những nhạc công biểu diễn bằng cả trái tim, tạo nên nhịp điệu lôi cuốn khiến máu bạn sục sôi và chân bạn muốn dậm nhảy. Âm nhạc lan truyền và Wyn bật cười khi Kez kéo nó ra sàn nhảy. Năm đứa nhóc-hầm ở đâu khác có thể gây sự chú ý, nhưng tại đây, quay cuồng giữa đoàn vũ công và ca sĩ, chẳng ai thèm nhướng mày cả.

Bọn trẻ di chuyển với sự thoải mái của những người biết cách lách khỏi bàn tay cảnh vệ Piltover trong thoáng chốc. Feen dậm ầm ầm, vung vẩy chân tay xung quanh như điên. Janke lắc lư đầu, đắm chìm trong thế giới âm nhạc của riêng nó. Nico khiêu vũ nhịp nhàng, thỉnh thoảng lại ngừng lại để tán tỉnh một cô gái xinh xắn. Wyn khua tay khi nó và Kez chạy khắp sàn nhảy, người này xoay quanh người kia với niềm phấn khích đến quên đi tất cả.

Nhạc to đến nỗi hai đứa không thể nói chuyện.

Những nó chẳng quan tâm.

Hóa-đăng chiếu cầu vồng lên đèn chùm và nó nổ tung thành những chùm sắc màu chói lóa tỏa ra theo hình kim cương. Wyn giơ tay như định túm lấy ánh sáng. Kez quàng tay quanh cổ nó và cũng cố nắm bắt ánh sáng. Nó ngửi thấy mùi xà phòng và mồ hôi của cô, hương thơm của tóc cô và cả sự ấm áp tỏa ra từ cô. Nó không bao giờ muốn khoảnh khắc này chấm dứt.

Nhưng nó đã chấm dứt.

Một bàn tay núc ních đập lên vai Wyn và nó thấy sự thất vọng tột cùng khi một khoảnh khắc chẳng bao giờ tái hiện bị giật khỏi tay. Nó nguyền rủa kẻ nào làm chuyện này, nhưng câu chửi thề chưa ra đến miệng đã im bặt bởi Hóa-Thở đang nhìn xuống nó.

“Tao đã bảo bọn mi biến về Hầm chưa nhỉ?”

Nó nhìn qua Kez và thấy cô đang rất háo hức. Cô gật đầu, trả lời câu hỏi không cần hỏi của nó bằng bàn tay mở rộng.

Wyn cầm tay cô và hét, “Chạy đi!”

Nó né cú chụp của Hóa-Thủ và cả hai chạy thẳng về hướng trung tâm sàn nhảy. Kez hét to khi hai đứa luồn lách qua các vũ công như đang chơi trò né-kéo ở Hầm. Chúng nắm tay nhau chạy, Hóa-Thở bám sát đằng sau. Hắn chen lấn tiến tới, nhưng Kez và Wyn đã chạy trên những con phố ở Zaun từ lúc chúng biết đi. Chúng đã thoát khỏi cảnh vệ, hóa-tặc, và cả đám lính gác nâng cấp.

Một tên giữ cổng béo ục ịch chẳng có tí thử thách gì cả.

Chúng nghe tiếng la hét giận dữ của Hóa-Thở lẫn trong tiếng nhạc, như thể hắn đang hát bè. Chúng cứ thế lôi hắn vào cuộc rượt đuổi điên cuồng, ngụp lặn giữa các vũ công và ca sĩ. Kez nắm chặt tay nó. Wyn không thể ngừng cười ngay cả khi chúng để Hóa-Thở lại gần. Rồi, ngay khi tay hắn chạm đến vai nó, Hóa-Thở lại ngã dúi dụi xuống sàn, lãnh nguyên một cú cùi chỏ của Feen vào mặt.

Bọn trẻ mặc kệ hắn lăn lộn trên sàn. Wyn không thể nhớ cảm giác nào phê hơn thế này. Mỗi bước chạy nhảy của nó đều chuẩn theo nhịp nhạc. Mỗi khúc ca vút lên như thể được viết ra cho chính lúc này. Chúng cười như tâm thần giữa hỗn loạn ánh sáng và màu sắc, đồng điệu theo một cách chúng chưa từng biết đến trước đây.

Rồi nhạc ngừng. Ánh đèn tắt phụt đến lúc chỉ còn một cái tập trung chiếu lên sàn. Các vũ công đồng loạt thở dài khi một phụ nữ đột ngột xuất hiện giữa trung tâm sân khấu. Ma thuật hay do thủ thuật biểu diễn, Wyn cũng chẳng quan tâm, cảnh đó đơn giản là tuyệt đẹp.

“Má Elodie,” Kez nói.

Wyn biết đó chính là bà, nhưng nó vẫn không thể tin được bà chủ của Nhà Hy Vọng với nữ thần trước mắt đây là một. Mái tóc dài tết cẩn thận từng lọn, phủ trang sức bằng xà cừ và ngọc thạch lấp lánh như những ngôi sao mới sinh. Bà mặc bộ váy xanh rạng rỡ với một rừng nếp gấp và lung linh như tơ bạc.

Bà là người phụ nữ đẹp nhất nó từng thấy.

Má Elodie ngẩng đầu, và âm nhạc chuyển từ nhịp chậm sang nhanh dần. Bà ngẩng đầu đúng theo điệu nhạc và làn da sẫm lung linh trong lớp bụi kim cương. Mắt bà quét qua đám đông, như gắn thẳng vào mọi người ở Babette ánh nhìn sâu thẳm. Bà mỉm cười, như thể ngạc nhiên vì thấy quá đông người có mặt, và sự ấm áp trong đôi mắt màu hạnh nhân đó lan đến bất kỳ ai trông thấy bà. Wyn cảm thấy lòng tốt của bà bao bọc nó, mọi gánh nặng nó không biết mình đang mang dường như bị bóc đi từng lớp một.

Rồi bà cất tiếng hát.

Những từ ngữ thật xa lạ với nó, nhưng chúng ngọt ngào như mật ong, nửa được nói ra, nửa được hát lên. Mỗi nốt rung lên như lá cây trong đêm hè ấm áp, cuộn chảy quanh căn phòng. Giọng bà cao vút lên, khiến Wyn nổi gai ốc. Nó để khúc ca của Má Elodie quét qua mình. Wyn cảm nhận mối liên hệ đang lớn dần giữa nó và Kez. Mắt hai đứa gặp nhau và nó biết cô cũng cảm thấy điều tương tự.

Nhưng còn hơn thế nữa.

Wyn cảm nhận mối liên hệ giữa mình và mọi người trong thính phòng, thứ cảm giác hòa hợp nó chưa từng biết hay mơ đến. Đôi tay Má Elodie vẫy trong không khí khi giọng hát đầy nội lực của bà tràn ngập sân khấu, ngấm qua da thịt và xóa tan mọi cách trở. Mồ hôi đổ trên da nó, và mạch máu hằn rõ trên cổ.

Dù chính bà tạo ra thứ âm nhạc này, nó cũng thật không thể tin nổi.

Ánh sáng trong phòng mờ dần khi giọng bà nhỏ bớt. Các nốt tan ra như tuyết mùa xuân, như nắng trên đại dương đóng băng. Lệ tuôn xuống mặt Wyn, và nó biết mình không phải người duy nhất bật khóc. Hàng tá đàn ông đàn bà đang lau mắt, giơ tay về phía Má Elodie và nài nỉ bà tiếp tục. Bà lắc lư trên sân khấu, bài hát đang đến gần hồi kết.

Chậm rãi, rất chậm rãi, bà hạ xuống theo một cửa sập trên sân khấu đến khi biến mất. Giọng Má Elodie nhỏ đi đến khi chỉ còn là tiếng thì thầm.

Rồi đến nó cũng lặng im.

Thính phòng giờ tối hoàn toàn. Wyn thở ra một hơi khó nhọc khi ánh đèn dần trở lại. Nó nhấp nháy điều tiết mắt, cảm thấy những ngọn hóa-đăng thắp lên chậm đến thế nào. Bài hát của Má Elodie kéo dài bao lâu? Nhiều giờ? Nhiều phút? Nó không có cách nào biết chắc. Wyn vừa thấy kiệt sức vừa thấy phục hồi. Suy nghĩ nó nhẹ bỗng, không khí chợt trong lành hơn những gì nó hít thở suốt nhiều tháng. Nó quay sang Kez, và thấy cô cũng có cảm giác như vậy. Thính giả mỉm cười; dù lạ hay quen, họ đều chào đón thứ ma thuật sẻ chia mà mình vừa trải nghiệm.

Nico, Feen, và Janke lại gần, tất cả đều như vừa trải qua chuyện gì sâu sắc lắm. Là gì thì Wyn không biết được, nhưng rõ ràng là ai cũng cảm thấy được thay đổi.

“Anh có…?” Wyn hỏi.

“Ừ,” Nico đáp.

Chúng ôm lấy nhau, năm đứa trẻ mồ côi từ Zaun, chia sẻ một khoảnh khắc ngắn ngủi được sở hữu thứ chúng sẽ không bao giờ biết tới nữa. Lúc buông nhau ra, hai tên giữ cổng, Hóa-Thở và Tay-Xì, đang đứng nắm chặt tay lại. Mũi của Hóa-Thở hơi lệch. Đẹp hơn đấy chứ, Wyn nghĩ.

“Tao chắc là mình đã bảo bọn mi về nhà,” Tay-Xì nói.

“Lũ chuột-hầm chết bầm,” Hóa-Thở quát, mũi vẫn chảy máu. “Cứ nghĩ chúng lừa được chúng ta chắc.”

Hắn đấm vào lòng bàn tay kia để nhấn mạnh thêm.

“Đến lúc bọn mi cút xéo rồi, và ta không thể hứa là nó sẽ không đau đâu,” Tay-Xì nói, giọng nghe như xin lỗi.

“Không cần đâu,” một giọng nói du dương vang lên phía sau.

Wyn thở phào nhẹ nhõm khi Má Elodie đặt tay lên gáy nó. Những ngón tay ấm áp khiến nó thấy bình thản.

“Chúng đi với bà ạ?” Hóa-Thở hỏi.

“Đúng thế đấy,” Mẹ Elodie đáp.

Hai tên giữ cổng nhìn như muốn đi xa hơn, nhưng cuối cùng kết luận rằng tranh cãi với ca sĩ nổi tiếng trước mặt đám đông khán giả bị bà bỏ bùa chắc không phải ý gì hay. Chúng lủi đi, mắt vẫn nhìn vào lũ trẻ như nhắc chúng rằng tránh bị ăn đập lần này thì được, nhưng bén mảng đến Babette lần nữa là ý tồi đấy.

Wyn quay lại nhìn Má Elodie, nhưng thứ ma thuật bà mang trên sân khấu giờ đã hoàn toàn biến mất. Công chúa Ionia đã đi đâu đó và bà chủ trại trẻ Zaun đã trở lại. Bà nghiêm khắc nhìn thẳng vào chúng.

“Lẽ ra ta cứ mặc chúng cho mấy đứa một trận để dạy cho mấy đứa một bài học,” bà nói, dồn đẩy chúng về phía cửa trước nhà hát. Những người khác gật đầu thầm đồng tình với cơn giận của bà, nhưng chỉ Wyn là thấy được một thoáng vui thích trong mắt bà. Dù vậy, Wyn cũng có thể thấy cả đống công việc khổ sai bày ra trong tương lai.

“Cô tuyệt quá đi,” Kez nói khi Má Elodie dẫn chúng ra khỏi nhà hát, hướng đến Phố Rơi. Chuyến thang máy muộn xuống Zaun có một trạm ở đó, nên ít nhất chúng cũng không phải cưỡi Gió hay leo thang bộ. Nico, Feen, và Janke lỉnh mất, chúng đủ lớn để tự về nhà mà không cần hỏi xin phép. Wyn không bận tâm; nó đang ở với Kez và Má Elodie, nên nó tận hưởng chuyến đi sáng ánh trăng về Nhà Hy Vọng.

“Cô học hát như thế ở đâu vậy?” Kez hỏi.

“Mẹ ta dạy ta khi ta còn con gái,” Má Elodie nói. “Bà thuộc… dòng dõi Ionia cổ xưa, nhưng giọng bà hay hơn ta nhiều.”

“Một bài hát thật hay,” Wyn nói.

“Mọi bài hát của Vastaya đều hay,” Má Elodie nói. “Nhưng chúng cũng buồn nữa.”

“Sao chúng lại buồn?” Wyn hỏi.

“Cái đẹp thực sự chỉ đẹp khi nó có hạn thôi,” Má Elodie đáp. “Đó là lý do một số bài hát của họ quá buồn để hát lúc này.”

Wyn không hiểu lắm. Sao một bài hát lại quá buồn để hát được? Nó muốn hỏi thêm, nhưng họ càng đi xa khỏi Babette, chuyện đó dường như càng ít quan trọng.

Nó ngước lên. Hóa-đăng và những vì sao phản chiếu lấp lánh trên thành phố sắt và kính khi họ băng qua con phố bên vách đá dẫn về nhà. Wyn thấy một mảnh trăng ló ra phía sau mấy, và hít sâu một hơi không khí trong lành, biết rằng nó có thể không làm được điều đó trong một thời gian dài sắp tới.

“Từ giờ đến cuối tuần mấy đứa sẽ phải cọ sàn và rửa nồi, được chứ?” Má Elodie nói.

Wyn gật đầu, nhưng chẳng bận tâm. Nó vẫn đang nắm tay Kez. Một tuần cọ rửa dường như là một cái giá nhỏ nhoi.

“Chắc chắn,” nó nói. “Nghe hay đấy ạ”.

Nguồn: League Of Legends Universe

Chuyên mục Hồ Sơ Nhân Vật Liên Minh Huyền Thoại

Website: hosonhanvat.vn

Get real time updates directly on you device, subscribe now.

Bình Luận
Loading...