Hồ sơ – Tiểu sử – Truyện ngắn: HECARIM – BÓNG MA CHIẾN TRANH

0 93
Hecarim là một sự kết hợp gớm ghiếc giữa người và thú, bị nguyền rủa phải bắt giữ linh hồn kẻ sống mãi mãi. Khi Quần Đảo Phước Lành chìm vào trong bóng tối, gã hiệp sĩ đầy tự hào này bị xóa sổ trước năng lượng hủy diệt của Đại Suy Vong, cùng với tất cả đoàn người ngựa. Giờ, mỗi khi Màn Sương Đen ùa đến Runeterra, hắn lại dẫn đầu cuộc xung kích chết chóc, tận hưởng cuộc tàn sát và nghiền nát kẻ địch dưới móng sắt của mình.
Hồ sơ - Tiểu sử - Truyện ngắn: HECARIM - BÓNG MA CHIẾN TRANH - ho so tieu su cau chuyen cua HECARIM -

“Phá tan hàng ngũ. Giày xéo không thương tiếc. Nghiền nát kẻ sống. Tận hưởng nỗi kinh hoàng.”~ Hecarim

Tiểu Sử HECARIM – BÓNG MA CHIẾN TRANH

Sinh ra từ một đế chế đã từ lâu chỉ còn là cát bụi và dĩ vãng, Hecarim là một thành viên của Hội Sắt—hội kỵ binh đã tuyên thệ sẽ bảo vệ vương quốc được cai trị bởi vị vua của họ.

Với những chiến thắng nối tiếp chiến thắng của Hecarim trên lưng con chiến mã hùng mạnh, chỉ huy của Hội Sắt nhìn thấy trong hắn tố chất của người sẽ kế thừa ông… nhưng cùng với đó là một bóng đen đang dần đâm chồi. Sự thèm khát vô độ của hắn đối với vinh quang đã che mờ cả danh dự của hắn, và ông dần nhận ra rằng gã chiến binh trẻ không bao giờ được phép dẫn đầu họ.

Khi được truyền đạt điều này, Hecarim vô cùng phẫn nộ. Dù vậy, hắn vẫn cố nén cơn giận để tiếp tục nhiệm vụ của mình.

Trong chiến trận tiếp theo của họ, khi người chỉ huy bị bao vây bởi quân thù, bị chia cắt khỏi những kỵ binh của ông. Hecarim nhìn thấy cơ hội của hắn, quay lưng đi và để mặc ông bỏ mạng. Khi trận chiến kết thúc, Hội Sắt, không hề biết điều Hecarim vừa làm, đã quỳ xuống nơi chiến trường đẫm máu và tuyên thệ trung thành với hắn.

Hecarim trở về kinh đô để thực hiện nghi lễ tuyên thệ, và gặp gỡ với Kalista, người cận thần đáng tin cậy nhất của nhà vua. Cô đã nhìn nhận tài năng và khả năng lãnh đạo của hắn, và khi hoàng hậu bị trọng thương bởi mũi dao độc từ một tên sát thủ, Kalista đã rất yên tâm khi để Hội Sắt lại và bảo vệ nhà vua trong khi cô đi tìm phương thuốc cứu chữa.

Chìm sâu vào cơn hoang tưởng, luôn cảm thấy bị đe dọa bởi những bóng đen, nhà vua nổi cơn thịnh nộ với tất cả những kẻ mà ông cho là đang cố gắng tách rời ông khỏi người vợ đang hấp hối, và ra lệnh cho Hecarim thực hiện một cuộc thanh trừng khắp vương quốc. Hội Sắt từ đó đã được lưu danh là những cánh tay máu lạnh của nhà vua. Những ngôi làng bị thiêu rụi. Hàng trăm người lìa đầu dưới lưỡi kiếm.

Trước sự thật tàn khốc khi hoàng hậu đã không thể tránh khỏi cái chết, Hecarim đã châm thêm dầu vào nỗi đau buồn của nhà vua, biến nó thành cơn thịnh nộ, và khiến ông hạ lệnh cho Hội Sắt tấn công vào những vùng đất bên ngoài. Hắn sẽ trả thù cho cái chết của bà, nhưng hơn hết là tìm kiếm nhiều hơn những vinh quang đen tối dành cho bản thân.

Nhưng trước khi cuộc chinh phạt bắt đầu, Kalista đã trở về. Cô đã tìm được phương thuốc ở Quần Đảo Phước Lành xa xôi—nhưng giờ đã là quá trễ. Nhà vua không tin vào sự thật, và đã hạ lệnh bắt nhốt Kalista như một kẻ phản loạn. Tò mò trước những gì mình nghe thấy, Hecarim đã đến thăm cô trong ngục, nơi cô đã tiết lộ về màn sương mỏng manh bảo vệ quần đảo khỏi những kẻ xâm lược… cùng sự trù phú của những cư dân nơi vùng đất này, và đặc biệt là Suối Nguồn Sự Sống trong truyền thuyết.

Biết rằng chỉ có Kalista là người có thể dẫn họ đến đó, Hecarim đã thuyết phục được cô, dẫn đường cho hạm đội hoàng gia, băng qua màn sương che phủ Quần Đảo Phước Lành khỏi ánh mắt phàm nhân.

Họ cập bến nơi thành phố Helia, với thi thể đã được khâm liệm của hoàng hậu. Hội Sắt dẫn đầu đoàn quân, nhưng rốt cuộc họ cũng chỉ nhận được lời từ chối giúp đỡ từ thành chủ nơi đây. Điên cuồng, nhà vua ra lệnh cho Kalista hạ sát tất cả bọn họ, nhưng cô đã từ chối, và Hecarim chỉ mỉm cười, trước khi hắn thực hiện hành động đã khiến hắn mãi mãi bị nguyền rủa về sau. Hắn cắm ngập mũi giáo vào lưng Kalista, và hạ lệnh cho những thuộc cấp của mình tiến hành cướp phá thành phố, tước đoạt đi những kho tàng học thuật quý giá.

Giữa cơn hỗn loạn, một kẻ tùy tùng đã đồng ý dẫn đường cho nhà vua đến nơi Suối Nguồn Sự Sống—nhưng điều này cũng chẳng thể khiến Hecarim xao nhãng khỏi công việc giết chóc của bản thân, và điều đó đã khiến hắn hoàn toàn bị bất ngờ trước Sự Sụp Đổ của Quần Đảo Thiên

Một vụ nổ ma pháp xé toạc thành phố Helia, nó san bằng mọi công trình và nuốt chửng mọi thứ trong bóng tối héo tàn. Đó là Màn Sương Đen, một cơn cuồng phong dữ dội cuốn trôi tất cả thể sống nó chạm đến, vào trong cuộn xoáy điên cuồng của nó. Hecarim cố gắng tập hợp Hội Sắt, hòng rút lui về phía những con tàu, nhưng màn sương nuốt chửng từng người, từng người một trên đường bỏ chạy.

Cô độc, và thách thức cho đến phút cuối, kẻ chỉ huy bị bóng đêm dần xâm chiếm. Hắn và con chiến mã hùng mạnh bị vặn xoắn, trở thành một con quái vật kinh tởm, ma quái, đại diện cho bóng tối nơi tâm khảm Hecarim—một sinh vật đê tiện của thịnh nộ và thù ghét, trở thành một phần của Màn Sương Đen, và mãi mãi là nô lệ cho nó.

Vĩnh viễn bị trói buộc nơi Quần Đảo Bóng Đêm, Hecarim trải qua hàng thế kỷ, trong một hình hài nhạo báng cuộc đời trước đây của hắn, bị nguyền rủa phải đời đời canh giữ quần đảo kinh hoàng nơi hắn từng khát khao chinh phục. Và mỗi khi Màn Sương Đen lan tràn khỏi bờ biển của nó, hắn và những con quái vật đã từng là Hội Sắt trước đây lại một lần nữa chinh phạt, săn đuổi, hạ sát sự sống, như kí ức về những vinh quang từ lâu chỉ còn là dĩ vãng.

Truyện Ngắn HECARIM 1: KHÔNG AI SỐNG SÓT

Từng đợt sóng lạnh lẽo đập vào bờ biển ảm đạm, nhuốm đỏ máu của những người Hecarim đã giết. Lũ phàm nhân hắn chưa giết đang hoảng loạn chạy trên bãi biển. Cơn mưa đen trút xuống đầu chúng và mây bão sục sôi trong trái tim đau buồn của hòn đảo. Hắn nghe thấy chúng hét gọi lẫn nhau. Những từ ngữ hỗn độn mà hắn chẳng nhận ra nổi, nhưng ý nghĩa của chúng rất rõ ràng; chúng thực sự nghĩ chúng có thể sống để đến được tàu. Quả thật, chúng cũng có chút kỹ năng. Di chuyển đồng đều, khiên gỗ đan vào nhau. Nhưng chúng là phàm nhân và Hecarim từ từ nhấm nháp mùi vị của nỗi sợ hãi.

Hắn chạy quanh chúng, len lỏi qua những tàn tích đổ nát và bị màn cát bụi bốc lên che khuất. Tiếng sấm vang vọng của vó ngựa đập vào đá đen. Nó ăn mòn sự can đảm của chúng. Hắn nhìn đám phàm nhân qua khe hở trên mũ giáp. Ánh sáng yếu ớt của những linh hồn bất hạnh đang lập lòe trong thân xác của chúng. Nó làm hắn ghê tởm cho dù hắn thèm khát nó.

“Không ai sống sót,” hắn nói.

Giọng hắn bị bóp nghẹt bởi cái mũ sắt khủng khiếp, giống như tiếng kẽo kẹt của một kẻ chết treo. Âm thanh đó xoáy vào thần kinh chúng như nhưng lưỡi dao rỉ sét. Hắn hít vào nỗi sợ của chúng và nở nụ cười khi thấy một người hạ khiên xuống và chạy về phía thuyền trong tuyệt vọng.

Hắn gầm lên khi phi nước đại lao ra khỏi những tàn tích phủ đầy cỏ dại, hạ thấp thanh đao móc và cảm thấy cơn phấn khích quen thuộc. Một ký ức thoáng qua, cưỡi ngựa dẫn đầu đoàn hiệp sĩ giáp bạc. Giành lấy vinh quang và danh dự. Ký ức đó nhạt dần khi người đàn ông cảm thấy cái lạnh lướt qua mình và ngoái lại nhìn.

“Làm ơn! Không!” anh ta hét lên.

Hecarim lướt qua anh ta nhanh như sấm chớp.

Lưỡi đao đen bóng run lên khi được nhuộm đỏ. Làn khói mong manh của linh hồn người đàn ông tìm cách bay đi, nhưng màn sương đang trong cơn đói sẽ không bị đánh lừa. Hecarim nhìn linh hồn đó xoắn vặn lại trong một phản ảnh đen tối của cuộc đời người đàn ông.

Hecarim lấy sức mạnh từ hòn đảo và biển nổi sóng khi một toán hiệp sĩ bóng đêm cuộn trong ánh sáng mờ mờ lao lên từ mặt nước. Nhốt mình bên trong bộ giáp sắt cổ xưa, chúng rút ra những thanh gươm đen chập chờn ánh hào quang của bóng tối. Hắn đáng ra biết những người này. Chúng đã và vẫn đang phục vụ hắn, nhưng hắn không nhớ gì về chúng cả. Hắn quay về phía lũ phàm nhân trên bãi biển. Hắn rời khỏi màn sương, khoái trá trước sự khiếp đảm của chúng khi lần đầu tiên chúng thấy rõ hắn.

Hình dạng khổng lồ gớm ghiếc của một vật lai giữa người và ngựa, một vị thần phá hoại bằng sắt thép. Bộ giáp của hắn tối đen và đầy những vết khắc mà hắn chỉ mơ hồ nhớ được ý nghĩa. Lửa cháy âm ỉ đằng sau tấm che mặt, linh hồn bên trong lạnh lẽo, chết chóc và căm thù sự sống.

Hecarim lồng lên khi những tia sét ngoằn ngoèo rạch ngang bầu trời. Hắn hạ đao xuống và dẫn đầu toán hiệp sĩ xung kích, hất tung những đám cát đẫm máu và những mảnh xương vụn trên đường hắn đi qua. Lũ phàm nhân gào thét và nâng khiên lên, nhưng đợt tấn công này là không thể ngăn cản. Hecarim xông vào đầu tiên, đó là quyền của thủ lĩnh, và cú va chạm nảy lửa khiến bức tường khiên vỡ ra thành từng mảnh. Người bị giẫm đạp thành một đống dưới gót sắt của hắn. Thanh đao tả xung hữu đột, mỗi cú đánh lại lấy đi một người. Đoàn hiệp sĩ ma nghiền nát mọi thứ trước mặt, tàn sát những người sống trong cơn cuồng nộ của móng đạp, giáo đâm và kiếm chém. Linh hồn của đám phàm nhân thoát khỏi thân thể dập nát, bị bẫy giữa sự sống và cái chết bởi ma thuật của Vua Vô Danh.

Linh hồn của người chết vây quanh Hecarim, nhìn vào kẻ đã sát hại họ và hắn thích thú trước niềm vui chiến trận dâng trào. Hắn bỏ qua những linh hồn đang than khóc. Hắn không quan tâm gì đến việc nô lệ chúng. Cứ để cái việc thấp kém đó cho tên Cai Ngục Xiềng Xích.

Tất cả những gì Hecarim quan tâm là giết chóc.

Truyện Ngắn HECARIM 2: BÓNG ĐÊM VÀ VẬN MỆNH

TÁC GIẢ: GRAHAM MCNEILL

Bọn Lưỡi Đao Đồ Tể treo tên Quạ Xám trên cây cọc, bỏ mặc gã cho lũ ăn xác thối ngoài bến tàu. Trong đêm nay, đây là tên lưu manh thứ mười bảy bị giết trước sự chứng kiến của người mang mũ trùm.

Một đêm chậm chạp theo chuẩn của Bilgewater.

Ít nhất là kể từ khi Vua Hải Tặc bị hạ bệ.

Bầy chuột cầu cảng đã ăn gần hết chân kẻ bị treo và đang leo lên đống giỏ câu để thưởng thức phần thịt mềm nơi bắp đùi.

Người mang mũ trùm tiếp tục đi.

“Cứu. Tôi.”

Giọng nói nghèn nghẹn vang lên. Người mang mũ trùm quay phắt lại, tay đặt lên vũ khí.

Thật lạ là tên Quạ Xám vẫn còn sống sau khi bị cây cọc xuyên qua. Bọn Đồ Tể đã đóng nó sâu vào trong khung gỗ của một cần trục. Chẳng có cách nào đưa gã xuống mà không giết chết gã cả.

“Cứu. Tôi,” gã lặp lại.

Người mang mũ trùm ngừng lại, cân nhắc lời thỉnh cầu của gã Quạ Xám.

“Để làm gì?” cuối cùng anh nói. “Dù có đưa được ngươi xuống, ngươi cũng không sống được đến sáng.”

Tên Quạ Xám cho tay vào túi ngầm của áo chẽn và lấy ra một đồng Kraken vàng. Ngay cả trong ánh sáng lờ mờ, người mang mũ trùm cũng thấy nó là tiền thật.

Bầy thú ăn xác rú rít và xù lông lên khi anh lại gần. Chuột cầu cảng chẳng to lớn gì, nhưng miếng thịt nóng ấm kia không phải một phần thưởng mà chúng dễ dàng từ bỏ. Chúng nhe những chiếc nanh dài, nhọn như kim, và phun phì phì.

Anh đá văng một con xuống nước, dẫm bẹp con thứ hai. Chúng cắn trả, nhưng đôi chân khéo léo của anh né được bằng những bước di chuyển nhịp nhàng và chính xác. Anh giết thêm ba con nữa trước khi lũ còn lại chạy tứ tán vào bóng tối, cặp mắt đỏ rực giữa màn đêm.

Người mang mũ trùm đứng cạnh tên Quạ Xám. Diện mạo của anh bị che khuất sau lớp vải, nhưng dưới ánh trăng đơn độc, người ta cũng có thể hình dung ra một khuôn mặt đã từ lâu không nở nụ cười.

“Cái chết dành cho ngươi,” anh nói. “Hãy chào đón nó. Đừng lo lắng, ta đảm bảo nó sẽ nhanh chóng thôi.”

Anh lần tìm trong áo choàng và lấy ra một cây dùi bạc. Dài hai gang và phủ đầy những ký hiệu cuộn xoắn dọc theo thân, nó trông giống một thứ dụng cụ hoa mỹ của những nghệ nhân đồ da. Anh đặt mũi nhọn vào dưới cằm người đang hấp hối.

Đôi mắt kẻ khốn khổ mở to, gã quờ quạng cố nắm lấy tay áo người mang mũ trùm trong khi anh nhìn ra ngoài đại dương rộng lớn. Mặt biển như một tấm gương đen lấp lánh phản chiếu những ngọn nến, những lò than ngoài bến cảng và những ánh đèn chiếu ra từ ô kính của hàng ngàn con tàu.

“Các ngươi biết thứ gì ẩn náu bên kia đường chân trời,” anh nói. “Các ngươi biết nỗi kinh hoàng mà nó mang lại. Thế mà các ngươi vẫn cắn xé lẫn nhau như bầy thú dại. Thật vô lý.”

Anh quay lại và ấn mạnh cây dùi. Tên Quạ Xám giãy lên một cái và nỗi đau của gã chấm dứt. Đồng vàng rơi qua kẽ tay, lăn xuống nước.

Người mang mũ trùm rút cây dùi ra và lau nó vào cái áo rách nát của kẻ chết. Anh cất nó vào trong áo choàng và lấy ra một cây kim bằng vàng cùng một đoạn chỉ bạc ngâm trong nước suối Ionia.

Bằng sự thành thạo của một người đã thực hiện nhiệm vụ này nhiều lần trước đây, anh khâu mắt và miệng kẻ chết lại. Trong lúc làm việc, anh xướng lên những từ ngữ đã được dạy từ lâu, những từ ngữ từng thốt ra từ miệng một vị vua đã băng hà nhiều đời trước.

“Giờ cái chết không thể chạm tới ngươi,” anh nói khi kết thúc công việc và cất chỗ dụng cụ đi.

“Có lẽ là không, nhưng chúng tao sẽ không rời đi tay trắng, chắc chắn là thế,” một giọng nói vang lên phía sau người mang mũ trùm.

Anh quay lại và bỏ mũ trùm, để lộ ra làn da sẫm màu, xương gò má cao và quý tộc. Mái tóc đen buộc túm lại và đôi mắt từng thấy những điều kinh khủng ngoài sức tưởng tượng đang đánh giá những kẻ mới đến.

Sáu tên, mặc áo da vấy máu, tay áo cắt cụt để lộ ra những cánh tay cơ bắp phủ đầy hình xăm gai nhọn. Mỗi tên cầm một cây móc có răng cưa, thắt lưng lủng lẳng đủ loại dao hàng thịt. Bọn kẻ cướp mới nổi sau sự sụp đổ của tay bạo chúa từng cai trị Bilgewater bằng nắm đấm sắt. Với sự biến mất của hắn, thành phố chìm trong hỗn loạn khi các băng nhóm thù địch tranh giành nhau lãnh địa mới.

Chẳng ai che giấu được việc chúng đến gần. Ủng đóng đinh, mùi hôi và tiếng chửi thề đã thông báo sự xuất hiện của chúng trước cả khi chúng chường mặt ra.

“Tao không để ý đến việc một đồng xu rớt xuống chỗ Quý Bà Râu đâu,” tên to con nhất trong đám Đồ Tể nói, gã có cái bụng bự đến nỗi người ta phải thắc mắc liệu gã có thể đến đủ gần một cái xác để xẻ thịt nó không. “Nhưng một trong chúng tao đã giết thằng nhãi kia một cách công bằng, chắc chắn là thế. Nên đồng Kraken đó là của chúng tao.”

“Các ngươi muốn chết ở đây à?” người mang mũ trùm hỏi.

Tên béo phá lên cười.

“Mày biết mày đang nói chuyện với ai không?”

“Không. Ngươi thì sao?”

“Thế thì nói đi, để tao có thể khắc nó lên bia mộ của mày.”

“Tên ta là Lucian,” anh nói, hất áo choàng về sau và rút ra một cặp súng lục làm từ đá và thứ kim loại sáng bóng mà ngay cả những nhà giả kim điên rồ nhất ở Zaun cũng không biết đến. Một luồng sáng chói lòa khiến gã béo gục xuống với một cái lỗ cháy xém ở nơi từng là trái tim của gã.

Khẩu súng lục thứ hai của Lucian nhỏ hơn, chế tạo tinh xảo hơn, và bắn ra một tia lửa vàng cắt đôi một tên khác.

Y như lũ chuột cầu cảng, chúng bỏ chạy, nhưng Lucian hạ từng tên một. Mỗi chớp sáng là một phát bắn đoạt mạng và trong nháy mắt sáu tên Đồ Tể nằm la liệt trên mặt đất.

Anh cất súng đi và kéo áo choàng quấn quanh người. Nhiều tên khác sẽ bị thu hút tới bởi tiếng động của chuyện vừa xảy ra, và hắn không có thời gian để cứu linh hồn những kẻ đó khỏi thứ đang đến.

Lucian thở dài. Đúng là sai lầm khi dừng lại vì gã Quạ Xám, nhưng có lẽ con người trước đây của anh vẫn chưa hoàn toàn mất đi. Một ký ức chực trỗi dậy và anh lắc đầu để xua tan nó.

“Ta không thể lại trở thành kẻ đó,” Lucian nói.

Anh không đủ mạnh để giết Cai Ngục Xiềng Xích.

Bộ giáp của Olaf phủ đầy máu. Ông gầm gừ khi vung cây rìu được rèn ra trong Chân Băng ở nơi tận cùng của Freljord. Một lỗ hổng mới lại mỗi lần thứ vũ khí đó bổ xuống.

Cầm cây đuốc rực cháy ở tay kia, ông lội qua đống nội tạng của con Krakenwyrm, mở ra một con đường sau mỗi nhát rìu. Ông mất ba giờ để đến chui vào trong cái xác khổng lồ của con thủy quái.

Đúng là con quái thú đã chết từ một tuần trước sau một tháng dài săn đuổi từ phương Bắc. Hơn ba chục mũi lao phóng ra từ những cánh tay mạnh mẽ trên boong tàu Nụ Hôn Mùa Đông đã xuyên thủng lớp da đầy vảy của nó, nhưng chính mũi giáo của Olaf mới chính thức kết thúc trận chiến.

Giết quái vật giữa tâm một cơn bão ngoài khơi Bilgewater thật là phấn khích, và trong một lúc ngắn ngủi – khi con thuyền chồm lên và suýt nữa ném ông vào bụng con thú – ông nghĩ đó có thể là thời khắc ông đánh lừa được số phận và nhận lấy cái chết huy hoàng ông hằng tìm kiếm.

Nhưng rồi cái tay Svarfell lái tàu đó, quỷ tha ma bắt đôi vai cường tráng của gã đi, đã đưa con thuyền về thế cân bằng.

Và thật buồn là Olaf đã sống. Gần thêm một ngày nữa với nỗi sợ phải chết yên bình trên giường như một lão già lụ khụ.

Họ thả neo ở Bilgewater, hy vọng sẽ bán được cái xác và thu hoạch chiến tích từ nó; những cái răng sắc nhọn, loại máu đen cháy được như dầu, và bộ xương sườn khổng lồ để làm mái cho lâu đài của mẹ ông.

Đám người trong bộ tộc, kiệt sức sau cuộc săn, đang ngủ trên sàn tàu Nụ Hôn Mùa Đông, nhưng Olaf thì không thể nghỉ ngơi. Ông cầm rìu lên và bắt tay vào xẻ thịt con quái vật to xác này.

Cuối cùng hắn cũng thấy được khoang miệng của nó, một cái túi đủ lớn để nuốt cả một bộ tộc hoặc nghiền nát một con thuyền ba mươi tay chèo. Hàm răng như những cái đục bằng đá đen.

Olaf gật gù. “A. Rất vừa để làm một vòng lửa cho những kẻ lữ hành và đám thầy bói.”

Ông cắm cây đuốc xuống và bắt đầu công việc, chặt vào xương hàm đến khi một cái răng rời ra. Giắt búa vào thắt lưng, Olaf nhấc nó lên và đặt lên vai, khẽ rủa trước sức nặng của nó.

“Cứ như một con quỷ khổng lồ đi kiếm băng xây tổ,” ông càu nhàu rồi lần mò tìm đường ra.

Cuối cùng ông cũng bước qua lỗ hổng của vết thương bên sườn con Krakenwyrm và hít đầy phổi thứ không khí trong lành hơn một chút. Bilgewater là một đống hổ lốn những khói, sương và xác chết. Không khí nơi này nặng mùi của quá nhiều người sống chen chúc như một chuồng gia súc.

Ông nhổ một bãi nước bọt và nói, “Olaf trở về phương Bắc sớm chừng nào tốt chừng ấy.”

Không khí của Freljord sắc lạnh đến thấu xương. Ở đây thì toàn mùi sữa hỏng và thịt ôi.

“Này!” một giọng nói vọng qua mặt nước.

Olaf liếc nhìn vào bóng tối và thấy một ngư dân đã chèo thuyền ra biển, phía bên kia một hàng phao đánh dấu chẳng hiểu sao lại treo đầy chim chết và chuông.

“Con quái đó vừa thải anh ra hả?” người đánh cá kêu lên.

Olaf gật đầu và nói, “Tôi không có tiền đi tàu, nên tôi để nó nuốt mình ở Freljord và đưa xuống phương Nam.”

Người đánh cá cười và uống một ngụm từ cái chai vỡ bằng thủy tinh xanh. “Tôi sẽ ngồi đây và nghe câu chuyện dài đó!”

“Hãy lên tàu Nụ Hôn Mùa Đông và hỏi Olaf,” ông hét lên. “Chúng ta sẽ cùng làm một thùng Gravöl và vinh danh con quái này với những bài ca về cái chết.”

Không khí quanh Cầu Cảng Trắng thường đầy mùi phân chim và cá chết. Hôm nay nó lại có mùi khét của thịt cháy và gỗ bị thiêu rụi, thứ mùi khiến Miss Fortune liên tưởng tới cái chết của vô số thủ hạ của Gangplank. Tro bụi nhuộm đen bầu trời và khói nồng nặc bay về phía Tây từ những thùng mỡ thủy quái trên Cảng Lò Mổ. Miss Fortune thấy khó chịu trong miệng và nhổ xuống đám ván gỗ cong queo của cầu cảng. Mặt nước bên dưới nổi váng lên với những thứ phân hủy ra từ hàng ngàn xác chết chìm bên dưới từ nhiều năm nay.

“Ngươi và những người khác đã có một đêm bận rộn đấy,” cô nói, hất đầu về phía làn khói đang bốc lên phía vách đá phía Tây.

“Ây, đúng là thế,” Rafen đồng ý. “Quá nhiều thủ hạ của Gangplank chìm xuồng trong hôm nay.”

“Ngươi kiếm được bao nhiêu?” Miss Fortune nói.

“Thêm mười tên Vách Núi,” Rafen nói. “Và bọn Vảy Xương sẽ không làm phiền chúng ta nữa.”

Miss Fortune gật đầu đồng ý và quay sang nhìn cỗ đại bác bằng đồng chạm trổ công phu trên bến cảng.

Jackknife Byrne nằm trong đó; chết bởi phát đạn anh trúng phải trong cái ngày mà mọi thứ thay đổi, cái ngày mà Vũng Tử Thần nổ tung trước con mắt của toàn thể cư dân Bilgewater.

Viên đạn đáng ra sẽ bắn vào cô.

Giờ là lúc Byrne chìm xuống đó cùng những người chết khác và cô phải ở đó để chứng kiến. Khoảng hai trăm người, đàn ông và đàn bà, đến để bày tỏ lòng kính trọng; những phụ tá của cô, thành viên cũ trong băng của Byrne và những người lạ mà cô nghĩ có lẽ là thủy thủ đoàn trước đây hoặc những kẻ tò mò muốn đến để nhìn người đã hạ Gangplank.

Byrne nói anh từng có một con tàu riêng, một chiến hạm hai cột buồm từng là nỗi kinh hoàng trên bờ biển Noxus, nhưng cô cũng chỉ nghe anh kể như vậy. Có thể đúng, có thể sai, nhưng ở Bilgewater, sự thật thường kỳ lạ hơn bất kỳ câu chuyện nào được những người hát rong kể lại.

“Ta thấy ngươi cũng khiến bọn chúng đánh lẫn nhau ngoài Cảng Lò Mổ nữa đấy chứ,” Miss Fortune vừa nói vừa phủi tro bụi dính trên áo. Mái tóc đỏ đổ xuống dưới cái mũ ba sừng và phủ lên vai áo choàng.

“Ừ, không khó để khiến bọn Chó Phố Chuột và Vua Cầu Cảng chống đối nhau,” Rafen nói. “Ven Gallar luôn nhòm ngó đến khu này. Người của Says Travyn lấy nó của ông già hắn chừng mười năm trước.”

“Thật hả?”

“Ai biết chứ?” Rafen nói. “Chẳng quan trọng. Gallar sẽ nói bất kỳ điều gì để giành quyền kiểm soát phần này của cảng. Tôi chỉ giúp hắn chút thôi.”

“Giờ cũng chẳng còn nhiều để mà kiểm soát nữa.”

“Đúng,” Rafen nhe răng cười đồng ý. “Chúng giết nhau chết gần hết rồi. Chưa tính đến việc một trong hai băng đó sẽ sớm gây rắc rối cho chúng ta nữa.”

“Thêm một tuần thế này và sẽ không còn tay chân nào của Gangplank sống sót.”

Rafen nhìn cô lạ lùng và Miss Fortune giả bộ không nhận ra.

“Thôi, cho Byrne yên nghỉ đi,” Miss Fortune nói.

Họ bước đến chỗ khẩu đại bác, sẵn sàng lăn nó xuống biển. Một rừng vật đánh dấu bằng gỗ bập bềnh trên mặt nước, từ những đĩa gỗ đơn giản đến những bức tượng rắn biển cầu kỳ.

“Có ai muốn nói gì không?” Miss Fortune hỏi.

Mọi người im lặng, và cô gật đầu với Rafen, nhưng trước khi họ đưa được khẩu đại bác xuống nước, một giọng nói oang oang vang khắp cầu cảng.

“Ta có lời muốn nói.”

Miss Fortune quay lại và thấy một phụ nữ to lớn mặc bộ váy sặc sỡ đang bước xuống bến cảng hướng về phía họ. Một đội quân xăm trổ đầy mình đi theo sau; mười hai thanh niên cầm giáo, súng lục nòng rộng và chùy cong. Chúng đi nghênh ngang như một đám lưu manh tự phụ, đứng cạnh người phụ nữ như thể chúng sở hữu cả bến cảng này.

“Bảy địa ngục ơi, bà ta làm gì ở đây?”

“Illaoi biết Byrne à?”

“Không. Bà ta biết ta,” Miss Fortune nói. “Ta nghe nói bà ta và Gangplank từng có chuyện với nhau, ngươi biết không?”

“Thật à?”

“Vậy lời đồn là đúng.”

“Quý Bà Râu ạ, thảo nào mấy tuần trước người của Okao lại gây khó dễ cho chúng ta đến thế.”

Illaoi mang theo một quả cầu đá nặng nề như mỏ neo của chiếc Syren. Vị nữ tư tế mang theo nó đến bất kỳ nơi nào bà ta tới, và Miss Fortune nghĩ nó là một dạng vật tổ cho tín ngưỡng của người bản xứ. Cái mà những người khác gọi là Quý Bà Râu thì họ gọi bằng một cái tên gần như không thể phát âm nổi.

Illaoi lôi từ đâu ra một quả xoài đã bóc vỏ và cắn một miếng. Bà ta nhai nhóp nhép bằng cái miệng rộng ngoác như nòng pháo.

Cả đời này Miss Fortune chưa bao giờ ước ao một khẩu đại bác sẽ được nạp đạn và châm lửa đến thế.

“Một người dân của Bilgewater xứng đáng được Nagakabouros ban phúc, phải không?”

“Sao lại không nhỉ?” Miss Fortune đáp. “Anh ta đi xuống gặp nữ thần mà.”

“Nagakabouros không sống dưới lòng biển sâu,” Illaoi nói. “Chỉ những kẻ da hồng ngu ngốc mới nghĩ thế. Nagakabouros nằm trong tất cả những gì chúng ta làm để đưa chúng ta đi con đường của chúng ta.”

“Vâng, tôi mới ngu ngốc làm sao,” Miss Fortune nói.

Illaoi nhổ phần xơ của quả xoài xuống nước và vung quả cầu đá ra xung quanh như một viên đạn pháo khổng lồ, giơ nó lên trước mặt Miss Fortune.

“Cô không ngốc, Sarah,” Illaoi bật cười nói. “Nhưng cô thậm chí còn không biết cô là ai, cô đã làm gì.”

“Thật ra thì bà làm gì ở đây, Illaoi? Vì anh ta ư?”

“Ha! Hoàn toàn không,” Illaoi khịt mũi. “Đời ta là dành cho Nagakabouros. Một vị thần hay một con người? Lựa chọn kiểu gì vậy?”

“Chẳng có gì,” Miss Fortune. “Quá đen cho Gangplank.”

Illaoi cười, mồm vẫn đầy những xoài.

“Cô không làm sai,” bà ta chầm chậm gật đầu, “nhưng cô vẫn không chịu nghe tôi. Cô gỡ một con cá chình đao ra khỏi móc câu, cô phải dẫm lên cổ nó và bước đi trước khi nó cắm ngập hàm răng vào cô. Thế là mọi chuyển động của cô sẽ vĩnh viễn mất đi.”

“Thế là thế quái nào?”

“Hãy đến gặp ta khi cô hiểu ra,” Illaoi cầm lấy tay cô. Một lá bùa bằng san hô hồng, với những đường vân tỏa ra từ một điểm trung tâm trông như một con mắt mở trừng trừng, được đặt vào bàn tay cô.

“Giữ lấy đi,” Illaoi nói.

“Cái gì thế?”

“Một dấu hiệu của Nagakabouros để dẫn dắt cô khi cô lạc lối.”

“Thế thật ra nó là cái gì?”

“Chẳng là gì hơn những điều tôi vừa nói.”

Miss Fortune lưỡng lự, nhưng có quá nhiều người ở đây để cô có thể công khai chống lại nữ tư tế của Quý Bà Râu bằng cách từ chối món quà của bà ta. Cô cầm lá bùa và bỏ mũ ra để đeo nó vào trong khi Illaoi ghé về phía trước và thì thầm.

Illaoi cúi xuống thì thầm.

“Tôi không nghĩ là cô ngu ngốc đâu,” Illaoi nói. “Hãy chứng minh là tôi đúng đi.”

“Sao tôi phải quan tâm xem bà nghĩ gì?” Miss Fortune đáp trả.

“Vì một cơn bão đang đến,” Illaoi nói, hất đầu về phía thứ gì đó đằng sau vai Miss Fortune. “Cô biết nó, nên tốt nhất cô nên sẵn sàng chiến đấu.”

Bà ta quay đi và đá khẩu đại bác có chứa Byrne ra khỏi cầu cảng. Nó rơi ùm xuống nước và chìm dần trong một đám bọt bong bóng trước khi cái váng chất phân hủy tái hiện, để lại một vật đánh dấu dập dềnh để chỉ ra ai đang nằm bên dưới.

Vị nữ tư tế của Quý Bà Râu quay về ngôi đền trên miệng vách đá theo con đường bà ta đã đến, và Miss Fortune trầm ngâm nhìn ra biển.

Một cơn bão đang nhen nhóm trong lòng đại dương sâu thẩm, nhưng đó có phải nơi Illaoi đã nhìn không.

Bà ta đã nhìn về phía Quần Đảo Bóng Đêm.

Chưa có ai câu cá ở Vịnh Bilgewater vào ban đêm.

Tất nhiên là Piet biết tại sao, anh đã biết những vùng nước này cả đời. Những dòng thủy lưu phản trắc, những tảng đá ngầm náu mình ngay dưới mặt nước, và đáy biển đầy xác những con tàu mà thuyền trưởng của chúng đã không dành cho biển cả sự tôn trọng tương xứng. Nhưng, quan trọng hơn, ai cũng biết linh hồn những người bị chết chìm dưới biển đang rất cô đơn và muốn người khác gia nhập đội ngũ của họ.

Piet biết tất cả, nhưng anh vẫn phải nuôi gia đình.

Con tàu của thuyền trưởng Jerimiad đã cháy thành than trong trận giao tranh giữa Gangplank và Miss Fortune, Piet giờ không có việc làm và không có tiền mua thức ăn.

Anh tu hết nửa chai rượu táo để có can đảm đẩy thuyền xuống nước trong đêm, và viễn cảnh được uống rượu cùng một gã Freljord khổng lồ giúp anh vững tâm lại.

Piet uống thêm một ngụm rượu, giật mạnh phần râu dưới cằm và bắt đầu rót một vòng để tỏ lòng tôn kính với Quý Bà Râu.

Được hơi men ủ ấm, Piet chèo thuyền qua đám phao cảnh báo và lũ chim chết mắc trên đó đến khi anh tới được vùng biển gần nơi anh đã gặp may đêm trước. Jeremiad luôn nói anh có cái mũi đánh hơi được nơi cá sẽ cắn câu, và anh thấy rằng chúng sẽ tụ tập lại ở nơi những xác chết trong vụ Vũng Tử Thần trôi giạt đến.

Piet thu mái chèo và xếp chúng lại gọn ghẽ trước khi uống nốt chai rượu. Sau khi chắc rằng mình vẫn còn để lại một ngụm trong chai, anh ném nó xuống biển. Bằng những ngón tay mệt mỏi, run run vì say, anh móc vào lưỡi câu những con dòi lấy ra từ xác chết và buộc dây câu lên cọc.

Anh nhắm mắt và cúi gập người bên hông thuyền, đặt hai tay xuống nước.

“Nagakabouros,” anh nói, hy vọng dùng cái tên bản xứ của Quý Bà Râu sẽ mang lại nhiều may mắn hơn, “tôi không đòi hỏi gì nhiều. Làm ơn giúp tên đánh cá nghèo khổ này và cho anh ta vài miếng trong kho thức ăn của người. Hãy trông nom tôi và giữ tôi an toàn. Và nếu tôi chết trong vòng tay người, hãy đón nhận tôi dưới đó giữa những người đã khuất.”

Piet mở mắt.

Một khuôn mặt nhợt nhạt đang nhìn lại, chập chờn trên mặt nước. Ngọn lửa lạnh, không chút sinh khí tỏa sáng mờ mờ trên nó.

Anh hét lên và ngã ngửa xuống thuyền khi đám dây câu lần lượt bị kéo căng ra. Chúng khiến con thuyền quay vòng vòng khi sương cuộn lên từ mặt biển. Màn sương nhanh chóng trở nên dày đặc và ánh sáng trên những vách đá của Bilgewater biến mất trong bóng tối tràn vào từ ngoài khơi xa.

Tiếng kêu chối tai của một con chim chết cất lên giữa đám phao cảnh báo, theo sau đó là tiếng leng keng của những cái chuông khi những xác chim lắc lư theo gió.

Màn Sương Đen…

Piet quờ quạng với lấy mái chèo, cố gắng đặt chúng vào vị trí trong hoảng sợ. Màn sương lạnh cóng và những sợi chỉ đen chết chóc len lỏi qua da anh khi nó tràn đến. Anh rùng mình khi cái lạnh của cõi chết chạy dọc xương sống.

“Quý Bà Râu, Mẹ Biển Sâu, Nagakabouros,” anh thổn thức. “Làm ơn hãy dẫn tôi về nhà. Làm ơn, tôi cầu xin-”

Piet không bao giờ kết thúc được lời khẩn cầu của mình.

Một cặp móc xích bật ra từ ngực anh, những giọt máu đỏ sẫm nhỏ xuống từ đầu móc. Cái móc thứ ba xuyên qua bụng, một cái khác xuyên qua cổ. Cái thứ năm và sáu khoét qua bàn tay và hất anh ngã xuống, ghim Piet lên sàn thuyền.

Cơn đau chạy qua người anh và anh hét lên khi một khuôn mặt tàn ác bay ra từ màn sương đen. Ngọn lửa màu ngọc lục bảo tỏa sáng trên cái đầu có sừng của nó, và những cái lỗ do bầy linh hồn thù hận tạo ra rực cháy khi chúng ngấu nghiến nỗi đau của anh.

Bóng ma đó mặc một bộ áo choàng màu đen xưa, và một chùm chía khóa rỉ sét kêu sột soạt ở bên hông. Trên tay hắn nắm chắc một cây đèn lồng đầy tiếng than vãn và lắc lư trong niềm vui bệnh hoạn.

Piet cảm nhận linh hồn mình dần tách rời hơi ấm của da thịt khi lớp kính của cây đèn lồng đến từ địa ngục mở ra để đón anh vào. Sâu trong đó là tiếng rên rỉ của những linh hồn đang bị giày vò đến phát điên trong nỗi khổ đau bất tận. Piet cố gắng giữ linh hồn lại trong cơ thể, nhưng một lưỡi đao ma quái cắt qua và quãng thời gian anh có mặt trên thế giới chấm dứt khi lồng kính đóng sập lại.

“Ngươi là một linh hồn khốn khổ,” kẻ tước đoạt sự sống của anh nói, giọng hắn như tiếng sỏi rải trên bia mộ. “Nhưng ngươi là kẻ đầu tiên Thresh có được trong đêm nay.”

Màn sương đen khẽ lay động, và hình bóng những ác linh, những hồn ma đang gào thét và những kỵ sĩ ma quỷ xuất hiện trong đó.

Bóng tối trỗi dậy từ biển cả và tràn vào đất liền.

Và những ngọn đèn ở Bilgewater vụt tắt.

Miss Fortune lấy đạn ra khỏi súng và đặt chúng trên bàn cạnh thanh đoản kiếm. Tiếng chuông dồn dập và những tiếng la hét vọng lên từ thành phố bên dưới. Cô biết rõ nó báo hiệu điều gì.

Đêm Thống Khổ.

Bất chấp cơn bão sắp đến, cô vẫn mở toang cửa sổ của tòa nhà mới mua, như muốn thách thức cái chết. Gió thì thầm mang theo nỗi khao khát của dân chúng và cái lạnh ngấm đến tận xương.

Nằm chênh vênh trên vách đá phía Đông Bilgewater, căn biệt thự từng thuộc về một tên đầu đảng, nhưng trong cơn hỗn loạn khi thế lực của Gangplank sụp đổ, hắn bị lôi khỏi giường và não hắn văng tung tóe trên con đường rải sỏi.

Giờ tòa nhà thuộc về Miss Fortune, cô sẽ bị nguyền rủa nếu đi lại con đường ấy. Ngón tay cô chạy dọc theo những đường vân trên lá bùa Illaoi đã đưa cho. Chất san hô chạm vào thật ấm, và dù cô không thực sự tin vào thứ nó đại diện, nó cũng là một vật trang trí khá đẹp.

Cánh cửa căn phòng mở ra và cô rời tay khỏi lá bùa.

Không cần quay lại cô cũng biết ai đang đứng sau lưng mình. Chỉ có một người dám vào mà không gõ cửa.

“Cô đang làm gì thế?” Rafen hỏi.

“Trông ta giống như đang làm gì?”

“Như là cô định làm điều gì đó ngu ngốc.”

“Ngu ngốc?” Miss Fortune hỏi lại và đặt tay lên bàn. “Chúng ta đã đổ máu và đã mất nhiều người tốt để hạ bệ Gangplank. Ta sẽ không để Đêm Thống Khổ cứ-”

“Cứ làm sao?”

“Lấy chỗ này đi,” cô chụp lấy khẩu súng và nhét chúng vào bao. “Và ngươi sẽ không ngăn cản ta.”

“Chúng tôi không ở đây để cản cô.”

Miss Fortune quay lại nhìn Rafen đang đứng trên ngưỡng cửa. Vài chục chiến binh giỏi nhất của cô đang chờ ngoài tiền sảnh, vũ trang đến tận răng với súng hỏa mai, súng lục, lựu đạn và đoản kiếm trông như vừa cướp được ở một viện bảo tàng.

“Có vẻ ngươi cũng định làm gì đó ngu ngốc,” cô nói.

“Ây,” Rafen nói rồi tiến đến bên cửa sổ mở và đóng lại. “Cô thật sự nghĩ chúng tôi sẽ để thuyền trưởng của mình đối mặt với thứ đó một mình sao?”

“Ta đã suýt chết để tiêu diệt Gangplank, và ta vẫn chưa giết hết được những kẻ từng câu kết với hắn. Ta không mong các ngươi đi cùng ta, không phải đêm nay,” Miss Fortune đứng trước đám thủ hạ và đặt tay lên báng súng bằng gỗ hồ đào. “Đây không phải cuộc chiến của các ngươi.”

“Nó sẽ rất đẫm máu đấy,” Rafen nói.

Miss Fortune hít một hơi và gật đầu.

“Rất có thể chúng ta sẽ không còn sống để thấy ánh bình minh,” cô nói, không thể ngăn được môi mình nhếch một nụ cười.

“Đây đâu phải Đêm Thống Khổ lần đầu của chúng ta, thuyền trưởng,” Rafen nói, tay gõ nhẹ lên cái đầu lâu trên chuôi kiếm. “Và tôi không tin đây sẽ là lần cuối đâu.”

Olaf đang đứng trước chiếc Nụ Hôn Mùa Đông khi ông nghe thấy tiếng la hét. Ban đầu ông mặc kệ – đó nào phải chuyện gì mới ở Bilgewater – nhưng rồi ông thấy mọi người chạy khỏi bên tàu trong sợ hãi, và bắt đầu để ý.

Họ trèo ra khỏi thuyền và chạy vào những con phố nhanh nhất có thể. Họ không ngoái lại nhìn, thậm chí không dừng chân ngay cả khi một người đồng đội trượt ngã hay rơi xuống nước.

Olaf đã thấy nhiều kẻ thua trận chạy trốn, nhưng cảnh này là một thứ gì khác. Nó là một nỗi sợ trần trụi, thứ ông chỉ từng thấy trên khuôn mặt những xác chết đông cứng dưới lòng sông giá nơi người ta đồn là Phù Thủy Băng đang trú ngụ.

Cửa chớp đóng sầm lại khắp cầu cảng và những ký hiệu trên mọi cánh cửa đều được phủ đầy bột trắng. Những cái tời to tướng đang nâng khối kiến trúc bằng gỗ làm từ nhiều thân tàu ghép lại với nhau lên cao trên vách đá.

Ông thấy tay chủ một quán ăn (bia ở đó chỉ mạnh hơn nước tiểu quỷ khổng lồ một chút) và vẫy tay gọi hắn.

“Cái gì đang diễn ra thế?” Olaf hét to.

Tay chủ quán lắc đầu và chỉ tay ra biển trước khi sập cửa. Olaf đặt răng của con Krakenwyrm xuống mặt đá của cầu cảng và quay lại nhìn xem cái đống ồn ào này là thế nào.

Đầu tiên ông nghĩ một cơn bão sắp tới, nhưng đó chỉ là một đám sương mù đen dày, đang tiến lại gần với một tốc độ phi tự nhiên và luôn biến đổi.

“À,” ông rút cây rìu ra. “Trông hứa hẹn đây.”

Tận hưởng cảm giác thoải mái của phần chuôi rìu bọc da trong bàn tay chai sần, ông tung hứng nó từ tay này qua tay kia và xoay vai để giãn gân cốt.

Màn sương đen quét qua đám thuyền ngoài xa nhất và Olaf trợn mắt khi thấy những linh hồn nhảy ra từ những cơn ác mộng tồi tệ nhất quằn quại trong đó. Một tử kỵ sĩ, thứ quái vật kết hợp giữa người và chiến mã, dẫn chúng đi cạnh một tên thần chết mang áo choàng đen thấp thoáng ngọn lửa xanh. Hai tên chúa tể của người chết này để mặc đám linh hồn khai tiệc trên bến tàu khi chúng lướt vào Bilgewater bằng vận tốc của thú săn mồi.

Olaf từng nghe người bản xứ thì thầm về thứ gì đó được gọi là Đêm Thống Khổ, ngày của diệt vọng và bóng tối, nhưng chưa từng nghĩ sẽ may mắn được đối mặt với nó cùng cây rìu trong tay.

Đám hồn ma ùa vào trong những chiến hạm, thuyền buôn và tàu hải tặc, xé nát chúng bằng nanh vuốt của mình. Vải buồm rách toạc và dây buộc bung ra như những thớ gân thối. Cột buồm gãy đổ lẫn vào nhau và vỡ tan thành từng mảnh nhỏ.

Một lũ ma gào thét bay vào trong chiếc Nụ Hôn Mùa Đông và Olaf rống lên giận dữ khi con tàu lật nghiêng và nứt ra, những tấm ván gỗ đông cứng lại trong phút chốc. Con tàu chìm nhanh như đang chất đầy đá tảng, và Olaf thấy những đồng hương Freljord bị kéo xuống nước bởi những sinh vật chân tay tái nhợt như xác chết và miệng như lưỡi câu.

“Olaf sẽ khiến các ngươi ước rằng mình cứ chết yên một chỗ đi!” ông gầm lên khi lao vút qua cầu cảng.

Đám linh hồn trồi lên từ đại dương, móng vuốt băng lạnh chém về phía ông. Cây rìu của Olaf vung lên, quét một đường vòng cung qua bầy quái. Lũ người chết rít lên khi nó bổ đôi người chúng, lưỡi rìu bằng Chân Băng còn đáng sợ hơn bất kỳ bùa phép nào.

Chúng gào rú khi chết thêm lần nữa và Olaf cất lên bài hát cho giờ khắc cuối cùng của mình mà ông đã viết bằng toàn bộ khí lực. Ca từ đơn giản nhưng có thể sánh với bất kỳ thiên hùng ca nào được các thi sĩ lang thang kể lại. Ông đã chờ đợi bao lâu để hát những lời này? Ông đã thường sợ mình sẽ không bao giờ có cơ hội đó đến mức nào?

Một màn sương mờ ảo của những cái hàm đang đớp tràn tới, những bóng ma và nhiều thứ chết chóc khác. Vết băng rạn phủ đầy lên giáp ông và bàn tay chết người của những linh hồn tham lam thiêu đốt da ông.

Nhưng trái tim của Olaf rất mạnh mẽ và nó thắp lên trong máu ngọn lửa cuồng nộ của những kẻ liều mạng. Ông rũ sạch cơn đau khi tiếp xúc với hồn ma, cảm nhận lý trí lắng xuống và giận dữ tăng dần.

Bọt máu xuất hiện hai bên mép khi ông cắn vào trong má. Ông gầm lên và vung cây rìu như một kẻ điên, không quan tâm chút nào đến đau đớn, chỉ cần biết giết chết kẻ thù.

Những kẻ đã chết rồi chẳng là gì đối với ông.

Olaf đang thu rìu lại chuẩn bị cho một cú đánh khác thì một tiếng va đập inh tai của cột kèo và rầm mái vang lên sau lưng. Ông quay lại đối mặt với kẻ thù mới xuất hiện. Một cơn bão gỗ vụn và đá trút xuống bến tàu. Những mảnh nhọn cắt qua mặt ông và những viên đá to bằng nắm đấm làm trầy hai cánh tay. Mỡ và dịch của động vật đổ xuống trong một cơn mưa tởm lợm khi tiếng rên rỉ khủng khiếp bật ra từ trong màn sương đen.

Và ông nhìn thấy nó.

Linh hồn của con Krakenwyrm sống dậy từ những gì còn sót lại của nó nơi Cảng Lò Mổ. To lớn và đầy giận dữ, những xúc tu ma quái của nó vung vẩy trong không trung và quật xuống như những tia sét do một vị thần đang phẫn nộ ném ra. Cả khu phố biến thành tàn tích chỉ trong nháy mắt và cơn cuồng nộ của Olaf càng dâng lên khi ông cuối cùng cũng gặp được một đối thủ xứng đáng để tước đi sinh mạng của ông.

Olaf giơ cao cây rìu chào đón kẻ sẽ giết mình.

“Tuyệt đẹp!” ông hét lên và lao tới sự diệt vong.

Người phụ nữ đó đẹp với đôi mắt hình trái hạnh, đôi môi đầy đặn và gò má cao đặc trưng của Demacia. Bức chân dung trên mặt dây chuyền là một tuyệt tác, nhưng nó vẫn chưa thể diễn tả được sự mạnh mẽ và quyết đoán của Senna.

Anh hiếm khi nhìn vào ảnh cô vì biết rằng mang theo nỗi buồn đau đè nặng lên trái tim thế này chỉ khiến anh yếu đi. Khổ đau là một khe nứt trên tấm áo giáp của anh. Lucian không cho phép mình cảm thấy cô đã thật sự mất đi, nên anh đóng mặt dây chuyền. Anh biết anh nên chôn nó trong cát của hang động bên dưới vách đá, nhưng anh không thể chôn ký ức về cô xuống dưới lớp đất nơi cô nằm lại.

Nỗi đau sẽ chấm dứt khi Thresh bị tiêu diệt và cái chết của Senna được báo thù.

Khi đó, và chỉ khi đó, Lucian mới có thể than khóc cho người vợ đã mất và dâng lễ vật cho Quý Bà Che Mạng.

Đã bao lâu rồi kể từ cái đêm khủng khiếp đó?

Anh thấy vực thẳm không đáy của nỗi u buồn rình rập tấn công mình và nhiều lần anh đã đập tan nó. Anh nhắc lại những gì hội đã truyền thụ, ngâm nga những câu thần chú anh và Senna đã được dạy để rũ bỏ mọi cảm xúc. Chỉ có thế anh mới đạt được sự thăng bằng giúp anh đối mặt với những nỗi kinh hoàng vượt xa mọi tưởng tượng.

Nỗi đau lắng xuống, nhưng vẫn còn đó.

Việc anh mở mặt dây chuyền ra chỉ là miễn cưỡng khi anh thấy khoảng cách giữa mình và ký ức về Senna lớn dần. Anh nhận ra mình không còn nhớ được chính xác đường cong trên khuôn mặt cô, làn da mịn màng của cô hay màu mắt cô.

Cuộc săn đuổi này càng kéo dài thì anh càng cảm thấy cô xa cách.

Lucian ngẩng đầu lên, thở một hơi dài để nhịp tim chậm lại.

Vách hang bằng đá vôi nhạt màu, khoét vào trong vách đá trên đó Bilgewater được xây nên. Nước và những cây cuốc chim bằng đá của dân bản xứ đã tạo ra bên dưới thành phố một mê cung rất ít người biết hay thậm chí ngờ là nó tồn tại. Vách hang khắc đầy những hình xoắn ốc tiếp nối nhau, những gợn sóng lăn tăn và những thứ có lẽ là những con mắt không bao giờ chớp.

Anh biết đó là biểu tượng của tôn giáo địa phương, nhưng dù ai đã tạc nên chúng thì người đó cũng không ghé thăm nơi này từ lâu rồi. Anh tìm ra nó nhờ đi theo những dấu hiệu bí mật của chính tổ chức, những dấu hiệu dẫn anh đến những nơi ẩn náu và giúp đỡ tại bất kỳ thành phố nào ở Valoran.

Chỉ có ánh sáng nhạt phản chiếu trên trần hang, nhưng khi mắt anh dõi theo những hình khắc xoắn ốc, một vầng hào quang mờ ảo phát ra từ bàn tay anh.

Hãy để em làm tấm khiên của anh.

Lucian nhìn xuống, những từ ngữ đó vang lên rõ ràng như thể cô đang đứng ngay cạnh anh.

Mặt dây chuyền lấp lánh ngọn lửa lục.

Anh quàng nó qua cổ và cầm lấy cặp súng lục ma thuật.

“Thresh,” anh thì thầm.

Đường phố Bilgewater không một bóng người. Tiếng chuông ngoài đại dương vẫn rung lên và những tiếng hét kinh hoàng vang vọng từ bên dưới. Phố Chuột hoàn toàn bị Màn Sương Đen che phủ và cơn bão gào thét đang điên cuồng tàn phá Cảng Than Khóc. Lửa cháy dọc Cầu Đổ Tề và sương mù đang leo dần lên những vách đá phía trên Bến Xám.

Người dân ở khu trên của thành phố trốn trong nhà và cầu nguyện Quý Bà Râu cho Đêm Thống Khổ sẽ bỏ qua họ, cho đau khổ sẽ rơi xuống đầu những kẻ đen đủi tội nghiệp khác.

Nến long diên hương được thắp trên mỗi cánh cửa sổ, tỏa sáng lung linh đằng sau lớp kính màn xanh lục, và rễ cây Nữ Hoàng Của Rừng Đen treo đầy trên cửa, cửa chớp và những mảnh ván được đóng đinh chặt chẽ.

“Người ta thực sự tin vào cây Nữ Hoàng?” Miss Fortune hỏi.

Rafen nhún vai, miệng anh mím chặt và mắt nheo lại để tìm kiếm những mối đe dọa trong màn sương. Anh lấy ra một đoạn rễ cây đang cháy âm ỉ từ trong áo.

“Chỉ là cô đặt niềm tin vào đâu thôi mà, phải không?”

Miss Fortune rút súng ra.

“Ta tin vào chúng và chúng ta,” cô nói. “Ngươi còn mang theo thứ gì nữa”

“TThanh đoản kiếm đã giúp tôi an toàn qua sáu Đêm Thống Khổ,” anh đáp. “Tôi đã dâng một chai rượu rum mười năm lên Quý Bà Râu và thanh kiếm này tôi mua từ một gã đã thề rằng lưỡi của nó là thép mặt trời nguyên chất nhất.”

Miss Fortune liếc nhìn thanh kiếm ở trong bao, chưa cần nhìn lưỡi kiếm cô cũng chắc chắn rằng Rafen đã bị lừa. Phần chế tác trên tấm che tay quá tệ so với tài nghệ của những thợ rèn Demecia, nhưng cô không định nói với anh ta điều đó.

“Cô thì sao?” anh hỏi.

Miss Fortune vỗ lên túi đạn.

“Tất cả đều được ngâm trong Bóng Đêm Của Myron,” cô nói đủ to để cả ba mươi người trong đoàn có thể nghe thấy. “Nếu lũ người chết muốn đánh nhau, chúng ta sẽ chiến đấu với chúng bằng chính linh hồn của chúng ta.”

Thật khó mà cười nổi trong bầu không khí ngột ngạt này, nhưng cô thấy khóe miệng vài người nhếch lên và thế là đã vượt quá sự mong đợi của cô trong một đêm như vậy.

Cô quay lại và đi xuống khu dưới của Bilgewater, bước theo những bậc thang khấp khểnh được đục vào đá núi, đi qua những cây cầu bí mật bằng dây thừng đã mục nát quá nửa và len lỏi qua những con hẻm nhiều năm chưa có người qua lại.

Cô đưa họ đến một quảng trường rộng trên bến tàu, nơi những căn nhà lụp xụp lắc lư dựa vào nhao như thể chúng đang rầm rì bàn tán. Mặt tiền mỗi ngôi nhà là một đống gỗ vụn tạp nham, và những mảnh băng đọng đầy trên đó. Gió lạnh thổi qua tường nhà chắp vá, mang theo tiếng thổn thức và gào thét từ phía xa. Những lò than rực cháy treo trên hàng trăm cây cột nối giữa các ngôi nhà tỏa ra thứ khói của những loại cỏ kỳ lạ. Những vũng nước gợn sóng với ảnh phản chiếu của những thứ không có ở đó.

Bình thường nơi đây là một khu chợ náo nhiệt, đầy những quầy hàng, những người bán rượu thịt rong, những nhà buôn, hải tặc, thợ săn tiền thưởng và đủ loại người đến từ khắp các xó xỉnh trên thế giới. Gần như tại nơi nào ở Bilgewater người ta cũng thấy được chỗ này nên Miss Fortune mới muốn tới đây.

Màn sương quấn quanh từng tấm gỗ.

Những khuôn mặt đang lau đi những giọt lệ đã đóng thành băng.

Sương và bóng tối tập hợp lại.

“Quảng Trường Rạch Túi?” Rafen nói. “Làm thế nào chúng ta đến được đây? Tôi cai quản cả chỗ này. Tôi cứ nghĩ mình biết mọi lối ra vào như bất kỳ tên trộm cao tay nào rồi chứ.”

“Không phải mọi lối đâu,” Miss Fortune nói.

Dãy nhà hai bên im lìm trong bóng tối, và cô cố chống lại sự thôi thúc ngó qua những tấm vải buồm rách nát đang bay phần phật trước lỗ cửa sổ.

“Sao cô biết đường còn tôi thì không?”

“Quý Bà Bilgewater và ta là cùng một loại người,” Miss Fortune đáp, nhìn chăm chăm vào màn sương đang ùa vào quảng trường. “Bà ta thì thầm bí mật vào tai ta như những người bạn cũ, nên ta nắm rõ mọi lối ngầm mà ngươi sẽ chẳng bao giờ biết được đâu.”

Rafen càu nhàu khi họ tiến vào quảng trường trống không.

“Giờ thì làm gì nữa?”

“Đợi,” Miss Fortune đáp khi họ đã đến trung tâm quảng trường. Cô thấy mình đang đứng ở một nơi hoàn toàn trống trải, không có gì để che chắn hay ẩn nấp.

Màn sương đen rung rinh, sâu trong đó có nhiều thứ đang chuyển động.

Một cái đầu lâu trồi ra từ bóng tối, với đôi mắt trống rỗng và hàm răng sắc nhọn. Miệng nó há rộng ngoác và phát ra một tiếng than khóc ai oán.

Miss Fortune bắn một loạt đạn xuyên qua hốc mắt của nó và cái đầu lâu biến mất trong một tiếng rít tức giận. Cô xoay cái khóa trên mỗi khẩu súng và những cơ quan khéo léo bên trong nhanh chóng nạp đạn.

Trong chốc lát, tất cả im lặng.

Rồi màn sương đen tuôn trào khi đám người chết gào thét xông vào quảng trường.

Lần thứ hai trong tối nay Olaf tiến vào trong một con Krakenwyrm đã chết. Ông vung cây rìu như một gã tiều phu điên loạn. Những xúc tu to lớn của con quái cũng không thực như màn sương, nhưng lưỡi rìu băng vẫn chặt vào nó như chặt vào xác thịt.

Đám xúc tu quật xuống nền đá của bến tàu, nhưng Olaf khá nhanh nhẹn so với vóc người to lớn của ông. Những chiến binh chậm chạp không thể sống sót nổi ở Freljord. Ông bổ cây rìu chặt phăng một đoạn xúc tu, nó dần dần biến mất sau khi bị tách khỏi thân con quái vật.

Ngay cả giữa tấm màn đỏ máu, Olaf vẫn thấy đầu con quái vật trong đám hỗn loạn những xúc tu quăng quật xung quanh ông.

Mắt nó rực cháy ngọn lửa của một linh hồn cuồng nộ.

Một liên kết cao siêu thoáng xuất hiện.

Linh hồn con quái biết ông.

Olaf bật cười vui sướng.

“Ngươi đã thấy kẻ lấy mạng ngươi và giờ chúng ta bị ràng buộc bởi cái chết!” ông gầm lên. “Nếu ngươi giết được ta, chúng ta sẽ vĩnh viễn chiến đấu trong những vùng đất vượt ngoài tầm hiểu biết của phàm nhân.”

Viễn cảnh về một cuộc chiến vĩnh hằng với một đối thủ hùng mạnh như vậy khiến cơ bắp của Olaf căng tràn sức lực. Ông lao vào miệng con thú, không quan tâm gì đến cơn đau khi đám xúc tu của con Krakenwyrm quất vào da ông còn kinh khủng hơn những cơn cuồng phong trên bờ biển Lokfar.

Ông nhảy vào không trung, rìu giương cao.

Ông nhìn thẳng vào cái chết huy hoàng.

Một xúc tu quấn quanh đùi ông.

Nó nhấc bổng ông lên và quay tít trong không khí.

“Đi nào!” Olaf thét vang, giơ cây rìu lên trời để đón chào định mệnh. “Tới cái chết!”

Một sinh vật như bóng ma với móng vuốt quắp chặt và cái miệng đầy răng nanh lao ra từ đám linh hồn. Miss Fortune tặng cho nó một viên đạn và nó tan biến như làn khói trước gió.

Thêm một phát nữa và lại một linh hồn tan biến.

Cô nấp vào thay đạn sau một cây cọc đá hình Vua Sông đã trải qua nhiều mưa nắng. Cô rướn lên và hôn vào nụ cười đầy răng của nó.

Quan trọng là người ta đặt niềm tin vào đâu.

Thần thánh, những viên đạn hay kỹ năng của chính mình?

Nụ cười tuột khỏi gương mặt cô khi một khẩu súng rung lên với tiếng kêu ken két của kim loại. Lời quở trách của mẹ vang lên từ sâu trong ký ức của cô.

“Đó là điều xảy ra khi con để người khác trộn thuốc súng cho mình đó, Sarah,” cô nói, cho súng vào bao và rút kiếm ra khỏi vỏ. Cô đã lấy được nó từ tay thuyền trưởng con tàu Demacia đang giương buồm tiến về phương Bắc đến bờ biển Shuriman, và nó là một ví dụ hoàn hảo cho nghệ thuật chế tác mà cô chưa từng được thấy.

Miss Fortune rời chỗ nấp, xả đạn và chém vào đám sinh vật sương mù. Phát bắn của cô tiêu diệt thêm một con ma nữa và lưỡi kiếm như cắt qua xương thịt thực sự. Những linh hồn này cũng có một phần thực chất có thể bị tổn thương sao? Hình như không đúng lắm, nhưng quả thật cô đã làm thứ gì đó bên trong chúng bị thương.

Cô không có nhiều thời gian để nghĩ ngợi về chuyện này.

Mọi người thét lên khi cơn bão linh hồn đổ vào Quảng Trường Rạch Túi, những móng vuốt vung lên khiến máu họ đông cứng lại hoặc vươn đến lồng ngực và móc tim họ ra trong nỗi kinh hoàng. Sáu bảy người đã chết, có khi còn nhiều hơn. Đội của cô vẫn đang chiến đấu với kiếm và súng, hét vang tên Quý Bà Râu, những người họ yêu thương và thậm chí cả những vị thần ngoại đạo từ những vùng xa xôi.

Gì cũng được, Miss Fortune nghĩ.

Rafen quỳ xuống trên một chân, mặt tái mét, thở hổn hển như một tay khuân vác sau một ca làm dài. Sương phủ lên anh ta như mạng nhện và khúc rẽ cây đang cháy âm ỉ quanh cổ anh ta rực lên màu đỏ.

“Đứng lên, cuộc chiến chưa kết thúc đâu!” cô nói.

“Đừng có bảo tôi là cuộc chiến chưa kết thúc,” anh gắt lên và gượng đứng dậy. “Tôi đã trải qua nhiều Đêm Thống Khổ hơn là cô tưởng đấy.”

Trước khi Miss Fortune có thể hỏi con số chính xác, ông đã nhoài người sang bên và bắn vào thứ gì đó đằng sau cô. Một hồn ma chắp nối giữa sói và dơi rít lên khi nó bị hất văng đi, và Miss Fortune đáp trả bằng cách hạ gục một linh hồn đầy móc và răng ập tới phía sau vị phó chỉ huy.

“Mọi người nằm xuống!” Miss Fortune quát to, rút ra hai quả lựu đạn từ thắt lưng và ném nó vào giữa màn sương.

Chúng nổ tung. Gỗ và đá vụn văng rào rào. Kính vỡ tan và rơi xuống như một cơn mưa lấp lánh. Đám khói cay sè tràn ngập quảng trường, nhưng đó là thứ nhân tạo và hoàn toàn chẳng liên quan gì đến lũ hồn ma.

Rafen lắc đầu và ngoáy ngoáy tai.

“Trong quả bom đó có gì đấy?”

“Thuốc Nổ Đen trộn với tinh chất nhựa copal và cửu lý hương,” Miss Fortune đáp. “Một trong những vũ khí bí mật của ta.”

“Những thứ như thế có tác dụng với kẻ chết không?”

“Mẹ ta tin là có,” cô nói.

“Với tôi thế là đủ rồi,” Rafen cười nhăn nhở. “Cô biết đến, chúng ta chắc cũng xong rồi-”

“Đừng nói thế,” Miss Fortune cảnh cáo.

Màn sương bắt đầu tụ lại, mới đầu chỉ là từng đám nhỏ, sau đó hiện lên những con quái vật; những thứ hỗn hợp từ chân, hàm đầy răng nanh và cánh tay với tận cùng móc hoặc kẹp. Những linh hồn họ nghĩ mình đã giết được.

Tụ lại, sống lại.

Người ta đã nói gì về những kế hoạch nhỉ?

“Hóa ra lũ người chết cũng khó giết đấy,” Miss Fortune đáp và cố gắng không để lộ nỗi sợ hãi.

Cô thật ngây thơ khi nghĩ mấy món nữ trang rẻ tiền và niềm tin mù quáng là đủ để đối mặt với những linh hồn. Cô muốn cho người dân Bilgewater thấy rằng họ không cần Gangplank, rằng họ có thể tự tạo nên số mệnh của mình.

Thế mà, cô lại sắp khiến mình bị giết và để thành phố bị chia năm sẻ bảy.

Một tiếng ầm ầm vang lên ngoài quảng trường. Rồi một tiếng khác.

Tiếng sấm mở màn cho cơn bão.

Nó to dần thành tiếng búa nện trên đe, ngày một nhanh hơn và mạnh hơn đến khi mặt đất rung lên như trong cơn địa chấn.

“Cái thứ quái quỷ gì vậy?” Rafen nói.

“Ta không biết,” Miss Fortune nói khi bóng một kỵ sĩ ma trong bộ giáp đen như đêm tối bước ra từ màn sương. Hắn ngồi trên một con chiến mã hùng tráng và mũ giáp trên đầu có hình như một con quỷ.

“Tử kỵ sĩ,” Miss Fortune nói.

Rafen lắc đầu, mặt không còn chút máu.

“Không phải kỵ sĩ,” ông run giọng. “Đó là Bóng Ma Chiến Tranh…”

Nỗi sợ tràn qua đoàn quân của Miss Fortune khi nhắc đến cơn ác mộng vĩnh hằng của thịnh nộ và cuồng loạn.

Bóng Ma Chiến Tranh.

Tên hắn từng là Hecarim, nhưng không ai biết điều đó là thật hay chỉ là do mấy tay kể chuyện chế ra. Chỉ có kẻ ngốc mới dám thì thầm truyền thuyết đen tối của hắn quanh đống lửa, và thậm chí những kẻ đó cũng chỉ nói sau khi uống hết chỗ rượu rum đủ để nhấn chìm cả một chiến hạm Noxus.

Khi Bóng Ma Chiến Tranh đi ra khỏi màn sương, Miss Fortune nhận thấy hắn không chỉ là một kỵ sĩ.

Có lẽ trước đó Hecarim từng là kỵ sĩ, người và ngựa là hai thực thể tách biệt, nhưng giờ cả hai hợp lại làm một, một con quái vật khổng lồ chỉ biết đến hủy diệt.

“Chúng ở khắp nơi,” có giọng nói cất lên.

Miss Fortune đánh liều rời mắt khỏi tên nhân mã mang giáp để thấy một đàn kỵ sĩ ma xuất hiện với quầng sáng xanh trong suốt phủ quanh người. Chúng nâng giáo hoặc rút ra những thanh kiếm cùng tràn đầy hào quang tăm tối. Hecarim quét ngang thanh đao móc, trên lưỡi đao bốc lên ngọn lửa lục.

“Cô có biết đường bí mật nào ra khỏi đây không?” Rafen hỏi.

Không,” Miss Fortune nói. “Tôi muốn đánh với tên khốn này.”

“Cô muốn đánh nhau với Bóng Ma Chiến Tranh?”

Trước khi Miss Fortune kịp trả lời, một bóng người mang mũ trùm nhảy khỏi mái kho chứa thóc và đáp xuống giữa quảng trường. Anh ta chạm đất một cách duyên dáng, áo choàng tránh bão phấp phới sau lưng. Anh ta mang hai khẩu súng, nhưng không giống bất kỳ thứ vũ khí nào Miss Fortune từng thấy trên bàn của mẹ cô, một thứ kim loại màu đồng bao quanh những khúc trông như đá khắc.

Ánh sáng ngập tràn quảng trường khi anh ta bắn ra một tràng những quầng lửa rực rỡ đủ để làm lu mờ vụ nổ ở Vũng Tử Thần. Người đàn ông di chuyển theo hình xoắn ốc, ngắm mục tiêu và hạ gục chúng bằng động tác nhanh như roi quất. Màn sương cháy lên khi bị quầng lửa bắn trúng, và đám hồn ma gào thét như đang bị thiêu đốt.

Màn sương lùi khỏi Quảng Trường Rạch Túi, mang theo Hecarim và đám kỵ sĩ tử thần. Có gì đó nhắc nhở Miss Fortune đây chỉ là sự rút lui tạm thời.

Người đàn ông cho súng vào bao và quay lại nhìn Miss Fortune, anh ta bỏ mũ trùm ra để lộ khuôn mặt sẫm màu điển trai cùng cặp mắt ám ảnh.

“Chúng là bóng tối,” anh nói. “Đem đến đủ ánh sáng và chúng sẽ biến mất.”

Olaf chẳng vui vẻ gì với cái chết này.

Ông hy vọng mọi người sẽ nói về trận chiến hào hùng của ông với con Krakenwyrm, chứ không phải chết trong nhục nhã thế này.

Ông hy vọng có người sẽ nhìn thấy ông xông vào con thủy quái.

Ông cầu nguyện rằng ít nhất cũng có một người chứng kiến cảnh ông bị cái xúc tu nhấc lên không trung, rồi bỏ chạy trước khi thấy ông bị ném văng đi như một mẩu rác.

Olaf rơi xuyên qua mái một căn nhà nằm bên rìa vách đá. Hình như đó là một xác tàu? Ông rơi quá nhanh để kịp nhận ra. Gỗ vụn và đất nung trút ào ào xuống đầu khi ông trượt dài qua căn nhà. Ông liếc nhìn trong kinh ngạc khi những gương mặt đang gào thét lướt qua ông.

Olaf đập mạnh vào một tầng nhà. Một cây xà đỡ văng theo khi ông ngã xuống vách đá của Bilgewater. Ông va vào một tảng đá nhô ra và đâm đầu qua cánh cửa sổ để mở, lại rơi xuyên qua một tầng nhà nữa.

Những câu nguyền rủa giận dữ bật ra khỏi miệng ông.

Ông rơi vào giữa một rừng dây nhợ và ròng rọc, cờ quạt và thòng lọng. Người ông bầm dập, chân tay và vũ khí mắc trong đám lộn xộn. Số phận lại trêu ngươi ông, quấn ông trong một tấm vải buồm lùng nhùng.

“Không phải thế này, quỷ tha ma bắt!” ông gầm lên. “Không phải thế này!”

“Anh là ai và tôi có thể kiếm những khẩu súng như thế kia ở đâu?” Miss Fortune nói, chìa tay ra cho người mới tới.

“Tôi là Lucian,” anh ta nói, cảnh giác bắt tay cô.

“Thật mừng khi được biết anh, anh bạn,” Rafen nói, vỗ lưng anh ta như một người đồng đội cũ. Miss Fortune thấy sự thân mật của Rafen khiến Lucian không thoải mái, như thể anh ta đã quên cách xử sự với người khác.

Ánh mắt anh quét qua rìa quảng trường, ngón tay nhảy múa trên báng súng.

“Anh có đôi mắt tinh tường đấy, Lucian,” Miss Fortune nói.

“Chúng ta nên đi.” anh nói. “Bóng Ma Chiến Tranh sẽ quay lại.”

“Anh ta nói đúng,” Rafen nhìn cô cầu khẩn. “Đến lúc vào trong và đóng cửa lại rồi.”

“Không. Chúng ta ra đây để chiến đấu.”

“Nghe này, tôi hiểu, Sarah. Chúng ta giành được Bilgewater và cô cần chiến đấu để giữ nó, để cho mọi người thấy cô còn mạnh hơn Gangplank. Chà, cô đã làm được rồi. Chúng ta đã tiến vào Màn Sương Đen và chúng ta đã đánh với người chết. Thế còn hơn tất cả những gì hắn ta từng làm. Bất kỳ ai dám liều nhìn ra ngoài cửa sổ đều biết điều đó. Quỷ thật, ngay cả những ai không nhìn ra ngoài thì cũng nghe thấy tiếng. Cô còn muốn gì nữa?”

“Chiến đấu vì Bilgewater.”

“Có chiến đấu vì Bilgewater và có chết vì Bilgewater,” Rafen nói. “Tôi hoàn toàn đồng ý với cái thứ nhất, nhưng không thích cái thứ hai lắm. Những người này đã theo cô vào địa ngục, giờ đã đến lúc quay lại rồi.”

Miss Fortune quay lại đối diện với đội chiến binh của cô, ai nấy đều tả tơi, một người đã chết. Họ đều là những kẻ bán mạng vì tiền, nhưng họ đã làm mọi việc cô đòi hỏi, thậm chí còn hơn thế. Đâm đầu vào Màn Sương Đen có lẽ là việc dũng cảm nhất họ từng làm và cô không thể trả công họ bằng việc dẫn họ đến cái chết chỉ để thỏa mãn ý muốn báo thù của mình.

“Ông nói đúng,” cô thở dài. “Chúng ta xong việc ở đây rồi.”

“Thế thì hy vọng vận may sẽ đi theo cô,” Lucian nói, anh quay đi và rút cặp súng kỳ lạ ra.

“Chờ đã,” Miss Fortune gọi. “Đi cùng chúng tôi đi.”

Lucian lắc đầu. “Không, có một tên ác ma tôi cần phải tiêu diệt. Hắn tên là Thresh, Cai Ngục Xiềng Xích. Tôi nợ hắn cái chết.”

Miss Fortune thấy mắt Lucian tối sầm lại và nhận ra những cảm xúc cô từng có khi mẹ mình bị sát hại.

“Hắn đã cướp đi người thân của anh sao?” cô hỏi.

Lucian gật đầu, rồi không nói gì nữa, nhưng sự im lặng của anh đã nói lên nhiều điều.

“Đây không phải lần đầu anh chiến đấu với kẻ chết,” cô nói, “nhưng anh sẽ không qua nổi đêm nay nếu ờ ngoài này một mình. Tôi chắc điều này chẳng có ý nghĩa gì với anh, nhưng dù Thresh đã cướp đi ai đó của anh, người ấy cũng không muốn anh phải chết ở đây.”

Lucian cúi đầu, và Miss Fortune thấy một mặt dây chuyền bạc hiện ra trên cổ anh. Chỉ là cô tưởng tượng hay là màn sương đã khiến nó lung linh huyền ảo dưới ánh trăng?

“Đi cùng chúng tôi,” Miss Fortune nói. “Tìm nơi nào đó an toàn đến sáng và anh sẽ được sống để làm những gì anh muốn.”

“An toàn? Nơi nào an toàn trong thành phố này chứ?” Lucian hỏi.

“Tôi nghĩ tôi biết một chỗ,” Miss Fortune đáp.

Họ rời Quảng Trường Rạch Túi và đi về phía Tây đến Cầu Mãng Xà. Tại đó họ thấy một người Freljord. Ông bị trói trên cột như cái xác chết treo quấn vải liệm. Tuy nhiên, không giống những cái xác khác, người này vùng vẫy như một con cá mắc cạn.

Một đống đổ nát vương vãi xung quanh ông, và Miss Fortune ngước lên để xem ông đã rơi từ tận đâu xuống những căn nhà bên sườn vách đá thế này.

Một quãng đường dài, và việc ông còn sống đúng là một phép màu.

Lucian nâng súng lên, nhưng cô lắc đầu.

“Không, người này vẫn còn sống.”

Những tiếng kêu ú ớ vang lên trong tấm màn, những câu chửi thề đủ khiến một người bị đánh chết ở nhiều vùng đất khác, hét ra bởi một giọng Freljord không thể lẫn vào đâu được.

Cô đặt đầu mũi kiếm lên tấm màn và rạch một đường. Như một con thủy quái chui ra khỏi bụng mẹ, một người đàn ông khổng lồ râu ria xồm xoàm lăn xuống nền sỏi. Mùi cá ươn và rác rưởi bám đầy trên người ông.

Ông loạng choạng đứng dậy, vung vẩy cây rìu có lưỡi làm bằng một mảnh băng như kim cương.

“Đường nào đến Cảng Lò Mổ?” ông nói bằng giọng lè nhè của một kẻ say. Ông nhìn quanh, bối rối, đầu đầy vết sưng và bầm tím.

“Bình thường thì tôi sẽ bảo ông đi theo cái mũi của mình,” Miss Fortune đáp, “nhưng tôi sẽ ngạc nhiêu nếu ông còn ngửi thấy cái gì đấy.”

“Ta sẽ giết con Krakenwyrm đó mười lần nếu cần phải làm thế,” ông nói. “Ta nợ nó cái chết.”

“Tối nay có nhiều chuyện xảy ra thật,” Miss Fortune nói.

Người Freljord đó tự gọi mình là Olaf, một chiến binh phục vụ bà chủ chân chính của băng tuyết, và sau khi qua cơn chấn động, ông tuyên bố mình sẽ đi cùng họ đến khi ông có thể chiến đấu với hồn ma nguy hiểm nhất trong Màn Sương Đen.

“Ông muốn chết à?” Lucian hỏi.

“Tất nhiên,” Olaf đáp như thể đó là một câu hỏi cực kỳ ngu ngốc. “Ta tìm kiếm một kết thúc đáng đi vào truyền thuyết.”

Miss Fortune để mặc tên khùng đó với những giấc mơ về cái chết của ông ta. Chừng nào ông ta còn vung cây rìu vào đúng kẻ thù, ông ta còn được chào đón trong đoàn của cô.

Ba lần màn sương lại gần họ, và mỗi lần nó đều lấy đi một linh hồn bất hạnh. Những tiếng cười đầy thù hận vọng lại từ hai bên hông nhà, nghe như tiếng đá mài trên thép gỉ. Đàn chim ma cất tiếng kêu trên mái, chờ đợi một bữa dạ tiệc xác thối dưới ánh trăng. Ánh sáng mời gọi nhảy múa trong bóng đêm của màn sương, như ánh lửa ma trơi giữa vùng đầm lầy tăm tối.

“Đừng nhìn vào chúng,” Lucian nói.

Lời cảnh báo của anh đến quá trễ với một người đàn ông và vợ anh ta. Miss Fortune không biết tên họ, nhưng cô biết họ đã mất con trai vì dịch bệnh gần một năm trước. Họ đi ra mép vách đá, bị dẫn dắt bởi một hình ảnh mà chỉ họ mới thấy.

Một người khác cắm bàn tay gắn móc vào cổ họng trước khi bạn bè của ông ta kịp ngăn cản, người khác thì chỉ đơn giản là tan biến trong màn sương mà không ai nhận ra.

Lúc họ đến được Cầu Mãng Xà, cả đoàn chỉ còn lại gần một tá. Miss Fortune không thể thấy tiếc cho họ, cô đã bảo họ đừng đi cùng cô. Nếu họ muốn sống, đáng ra họ phải ẩn mình trong nhà cùng những hình khắc bảo hộ, những lá bùa xoắn ốc của Quý Bà Râu và cầu nguyện bất cứ thứ gì mang lại cho họ sự khuây khỏa.

Nhưng trong Đêm Thống Khổ, ngay cả điều đó cũng không đảm bảo cho họ an toàn.

Họ đi qua không biết bao ngôi nhà bị phá tung, cửa chớp vỡ tan tành và cửa ra vào treo lủng lẳng trên bản lề. Miss Fortune giữ ánh mắt nhìn thẳng, nhưng cô không thể không cảm thấy ánh nhìn oán hận của những khuôn mặt lạnh như băng bên trong cũng như sự kinh hoàng trong thời khắc cuối cùng của họ.

“Màn Sương Đen sẽ lấy những gì nó cần,” Rafen nói khi họ đi qua một ngôi nhà hoang tàn khác, người sống trong đó đã chết cứng từ bao giờ.

Cô thật muốn nổi giận trước thái độ chấp nhận một cách thờ ơ đến vậy, nhưng làm thế thì được gì chứ? Rốt cuộc anh ta vẫn đúng.

Thay vào đó, cô tập trung vào đường nét mờ ảo của tòa kiến trúc bên kia cầu. Nó nằm giữa một cái hố khoét vào trong vách núi, giống như một sinh vật biển khổng lồ nào đã ngoạm vào đá một miếng lớn. Tương tự nhiều nơi khác ở Bilgewater, nó được xây nên từ những gì biển để lại. Tường bằng gỗ trôi dạt và cành cây đến từ những vùng đất xa xôi, cửa sổ là xác tàu được trục vớt từ dưới đáy biển. Không có một đường thẳng nào trong cả công trình này. Những góc cạnh kỳ cục đem đến cho người ta cảm giác nó đang chuyển động, như thể một ngày nào đó nó sẽ chọn một nơi khác để đặt xuống đó nền móng tạm thời của mình.

Phần chóp nhọn của nó cũng cong và có rãnh như sừng kỳ lân biển, trên đỉnh chóp là ký hiệu xoắn ốc giống với thứ Miss Fortune đang đeo trên cổ. Ánh sáng mờ ảo viền quanh biểu tượng đó, ngăn bóng tối lại gần.

“Đây là đâu?” Lucian hỏi.

“Đền Thờ Quý Bà Râu,” cô đáp. “Ngôi Nhà Của Nagakabouros.”

“An toàn chứ?”

“An toàn hơn là ở ngoài này.”

Lucian gật đầu vào họ bước dọc theo cây cầu. Y hệt ngôi đền nó dẫn tới, cây cầu cũng chẳng có chút cân xứng, bề mặt cầu nhấp nhô dưới chân họ như một vật sống.

Rafen ngừng lại và ngó xuống.

“Mỗi năm lại một cao hơn,” anh nhận xét.

Miss Fortune miễn cưỡng đến cạnh anh và nhìn qua thành cầu.

Khu cảng và Phố Chuột hoàn toàn bị Màn Sương Đen phủ kín. Bilgewater ngạt thở giữa vòng kìm kẹp của màn sương, những xúc tu của nó luồn sâu hơn vào trong thành phố. Tiếng thét sợ hãi vọng lên tận trên, mỗi tiếng thét lại báo hiệu một sinh mạng vừa kết thúc và một linh hồn vừa gia nhập quân đoàn xác chết.

Rafen nhún vai. “Vài năm nữa thôi là không còn chỗ nào ở Bilgewater cao hơn nơi này được nữa.”

“Nhiều chuyện có thể xảy ra trong vài năm nữa,” Miss Fortune nói.

“Năm nào chuyện này cũng xảy ra à?” Olaf hỏi, một chân đặt lên mép cầu, không chút để ý đến việc mình sẽ bị trượt chân ngã xuống.

Miss Fortune gật đầu.

“Tuyệt vời,” người Freljord reo lên. “Nếu số phận không cho ta chết đêm nay, ta sẽ quay lại đây khi Màn Sương Đen trỗi dậy lần nữa.”

“Đó sẽ là tang lễ của ông,” Rafen nói.

“Cảm ơn,” Olaf vừa nói vừa vỗ bàn tay to bè của mình vào lưng Rafen, suýt nữa hất anh văng ra khỏi cầu. Mắt người Freljord trợn lên khi một đám xúc tu trồi ra khỏi màn sương, vươn dài và quật xuống những mái nhà của Phố Chuột.

“Con quái!” ông hét lên.

Và trước khi có ai kịp ngăn cản, ông đã leo lên thành cầu và nhảy xuống.

“Đồ điên,” Rafen nói khi bóng Olaf nhỏ dần rồi biến mất trong màn sương bên dưới.

“Những kẻ sống ở vùng băng giá đều điên cả,” Miss Fortune đáp. “Nhưng ông ta điên hơn tất cả những người ta từng gặp.”

“Đưa mọi người vào trong đi,” Lucian nói.

Cô nghe được sự cấp bách trong giọng nói của anh và quay lại nhìn thấy anh đang đứng đối diện một bóng ma cao lớn khoác trên mình bộ áo choàng đen và những xiềng xích có móc nhọn. Ánh sáng xanh bệnh hoạn cuộn lên khi nó đung đưa cây đèn lồng trên bàn tay vàng vọt. Nỗi sợ dâng trào trong lòng Miss Fortune, một nỗi sợ cô chưa từng biết đến kể từ cái ngày cô chứng kiến mẹ mình bị giết và phải nhìn thẳng vào nòng súng của tên sát nhân.

Lucian rút súng ra. “Thresh là của tôi.”

“Hắn là của anh đó,” cô gật đầu và quay đi.

Luồng mắt cô bị hút vào những bóng đen đang tiến lại gần phía trên ngôi đền. Cổ họng cô nghẹn lại khi thấy Hecarim cũng đội kỵ sĩ tử thần của hắn xuất hiện trên đỉnh dốc.

Bóng Ma Chiến Tranh giương cao thanh đao rực cháy và đám kỵ sĩ ma thúc chiến mã lao xuống. Không người thường nào có thể làm như vậy, nhưng chúng là những kỵ sĩ của thần chết.

“Chạy!” Miss Fortune hét lên.

Phía cuối cây cầu dày đặc ánh sáng xanh độc địa. Cai Ngục Xiềng Xích giấu bộ mặt như xác chết của mình bên dưới mũ trùm đầu, nhưng ngọn đèn lồng mờ tỏ chiếu vào đống tàn tích của thịt rữa, hốc hác và mất hết mọi cảm xúc trừ một niềm vui tàn nhẫn.

Hắn di chuyển nhẹ nhàng như tất cả những tên đồng loại khác, và những tiếng rền rĩ đau đớn vọng ra từ trong lớp áo choàng theo mỗi bước đi. Thresh ngẩng đầu lên, và Lucian thấy hàm răng nhọn hoắt nhe ra trong một nụ cười mong đợi.

“Phàm nhân,” Thresh dài giọng để cái từ đó lăn quanh miệng như một viên kẹo.

Lucian quỳ xuống, nhẩm lại câu thần chú khai sáng để tôi luyện linh hồn mình cho trận chiến sắp tới. Anh đã chuẩn bị cho giờ phút này cả nghìn lần, và giờ đã đến lúc. Môi anh khô lại, lòng bàn tay nhớp nháp mồ hôi.

“Ngươi đã giết Senna,” anh ngẩng đầu lên nói. “Người duy nhất ta còn lại trên thế giới này.”

“Senna…?” Thresh hỏi lại bằng giọng nghèn nghẹn như thể nó phát ra từ một cái cổ họng từng bị thòng lọng treo cổ xiết nát.

“Vợ ta,” Lucian đáp. Anh biết mình không nên nói, anh biết mỗi lời nói là một thứ vũ khí tên ác ma kia sẽ dùng để chống lại anh. Nước mắt che mờ tầm nhìn của anh khi nỗi buồn khổ cuốn đi mọi sự chuẩn bị và mọi lý tính còn sót lại. Anh nâng sợi dây chuyền bạc đeo trên cổ lên và mở nó ra. Anh cần phải cho tên ác ma kia hiểu được những mất mát của anh to lớn đến nhường nào.

Thresh cười, hàm răng như những mũi kim lóe sáng khi hắn gõ một móng tay vàng khè lên lồng kính của cây đèn.

“Ta nhớ rồi,” hắn nói. “Một linh hồn đầy sức sống. Đến giờ vẫn chưa khô cằn và lạnh lẽo. Đau đớn vì hành hạ. Hy vọng một cuộc sống mới. Chúng bùng lên trong người cô ta. Tươi mới như một đóa hoa mùa xuân. Thật quá dễ dàng để lừa gạt và hủy hoại nó bằng ảo mộng.”

Lucian nâng súng lên.

“Nếu ngươi nhớ cô ấy, thì ngươi cũng sẽ nhớ những cái này,” anh nói.

Nụ cười đầy răng chưa hề nhạt đi dưới cái mũ trùm đầu rách nát.

“Vũ khí của ánh sáng,” hắn nói.

“Và ánh sáng luôn là tai ương của bóng tối,” Lucian tiếp lời, dồn mọi hận thù vào cặp súng thiêng.

“Chờ đã,” Thresh nói, nhưng Lucian không thể chờ đợi thêm nữa.

Anh bắn ra hai phát súng lóa mắt.

Một quầng lửa thanh tẩy nuốt chửng Cai Ngục Xiềng Xích và tiếng kêu gào của hắn vang lên trong tai Lucian như giai điệu một bản nhạc.

Nhưng rồi nó biến thành một tiếng cười khùng khục.

Một vòng hào quang tăm tối nhạt dần quanh người Thresh trước khi bị hút vào trong cây đèn lồng, để lại hắn đứng đó, hoàn toàn không bị lửa làm tổn thương.

Lucian tiếp tục bắn, một cơn bão những luồng sáng chói lòa. Tất cả đều trúng, nhưng tất cả đều vô dụng. Mỗi phát bắn đều tan biến một cách vô hại trước màn sương năng lượng hắc ám của cây đèn lồng.

“Phải, ta nhớ những thứ vũ khí này,” tên ác ma nói. “Ta đã moi ra bí mật của chúng từ tâm trí cô ta.”

Lucian sững người lại.

“Ngươi vừa nói gì?”

Thresh bật ra một tiếng cười khò khè.

“Ngươi không biết sao? Sau tất cả những gì ngươi biết về ta, ngươi chưa từng nghi ngờ sao?”

Lucian thấy cái lạnh của nỗi sợ trào lên trong bụng. Một nỗi sợ có thể khiến anh phát điên.

“Cô ta không chết,” Thresh nói tiếp, giơ cao cây đèn lồng.

Lucian thấy những linh hồn bị giày vò xoáy tròn trong đó.

Thresh nhe răng cười. “Ta rút linh hồn cô ta ra và giữ nó.”

“Không…” Lucian kêu lên. “Ta đã thấy cô ấy chết.”

“Cô ta vẫn gào thét bên trong này đây,” vừa nói Thresh vừa tiến lại gần. “Mỗi giờ khắc tồn tại của cô ta đều là nỗi đau đớn ngọt ngào. Hãy nghe đi…có nghe thấy tiếng cô ta không?”

“Không,” Lucian khuỵu xuống thổn thức. Cặp súng lục đập xuống mặt đá của cầu kêu lách cách.

Thresh đi xung quanh anh, xiềng xích uốn éo trườn ra từ thắt lưng và quấn lên người Lucian. Những cái móc cắt vào trong áo choàng, tìm kiếm thịt mềm đằng sau lớp vải.

“Hy vọng là điểm yếu của cô ta. Tình yêu là sai lầm của cô ta.”

Lucian nhìn lên khuôn mặt mục nát của Thresh.

Đôi mắt hắn trống rỗng, một hố đen dẫn tới hư vô.

Dù Thresh từng là cái gì thì nó cũng đã hoàn toàn biến mất rồi. Không có lòng trắc ẩn, không có sự khoan dung, và không có nhân tính.

“Tất cả đều là chết chóc và khổ đau, phàm nhân,” Cai Ngục Xiềng Xích đặt tay lên cổ Lucian. “Không cần biết ngươi chạy đến đâu, thứ duy nhất ngươi còn lại là cái chết. Nhưng trước lúc đó, còn có ta.”

Miss Fortune thở dốc khi cô chạy đến ngôi đên. Phổi cô gắng sức để hô hấp, và mạch máu thì như bị đóng băng. Màn sương đã chạm đến chân ngôi đền ẩn hiện sự xuất hiện của hai lãnh chúa tử thần. Chớp sáng lóe lên sau lưng cô, nhưng cô không nhìn lại. Cô nghe thấy tiếng vó ngựa như sấm sét gõ lên đá, những tia lửa tóe ra trong bóng tối.

Cô hình dung hơi thở của con chiến mã phả vào gáy cô.

Khoảng trống giữa hai vai cô cháy bỏng lên khi nghĩ đến cảnh ngọn giáo ma đâm xuyên qua người.

Chờ đã, sao chúng có thể làm thế nếu chúng là ma?

Ý nghĩ ngớ ngẩn đó khiến cô bật cười, và cô vẫn không ngừng cười khi đâm sầm vào cánh cửa đền bằng gỗ. Rafen và những người khác đã ở đó, đang đập cửa không ngừng.

“Nhân danh Quý Bà Râu, cho chúng tôi vào!” anh ta hét lên.

Anh ngước lên khi Miss Fortune bước đến.

“Cửa khóa rồi,” anh nói.

“Ta biết,” cô thở hổn hển, giật tung lá bùa Illaoi đã đưa cho cô. Cô đặt tay lên cửa ấn mạnh lớp san hô vào gỗ.

“Illaoi!” cô nói to. “Tôi sẵn sàng giẫm lên cổ con cá chình quái quỷ đó rồi. Giờ mở cái cửa chết tiệt này ra!”

“Cá chình?” Rafen ngạc nhiên. “Cá chình nào? Cô đang nói cái gì thế?”

“Đừng bận tâm,” cô gắt lên, đập liên hồi bàn tay đầy máu lên cửa. “Tôi nghĩ nó là một kiểu ẩn dụ gì đó.”

Cánh cửa bật tung ra như thể nó chưa hề được cài then. Miss Fortune lùi lại để người của cô đi trước rồi chợt quay người lại.

Hecarim xông đến và bổ thanh đao xuống đầu cô.

Một bàn tay nắm lấy cổ áo cô và lôi về phía sau. Lưỡi đao sượt qua cổ cô, cách có một phân.

Cô thấy sau lưng nặng trĩu.

Illaoi đứng trên ngưỡng cửa, viên đá của bà ta giơ trước người như một tấm khiên. Sương trắng bám quanh nó.

“Người chết không được chào đón ở đây,” bà nói.

Rafen và những người khác đóng cửa lại và hạ xuống một thanh chắn nặng nề bằng gỗ sồi, cài vào những cái móc rỉ sét ở hai bên. Có thứ gì đó tông mạnh vào cửa.

Gỗ nứt ra và những mảnh vụn văng tung tóe.

Illaoi quay lại và bước lại chỗ Miss Fortune, vẫn đang nằm dài trên sàn khảm đầy vỏ sò và đất sét.

“Ta phải lấy đi khoảng thời gian ngọt ngào này của cô rồi, cô gái,” bà ta nói khi kéo Miss Fortune đứng dậy. Trong đền có ít nhất là hai trăm người. Cô thấy đủ loại người ở Bilgewater: dân bản xứ, hải tặc, thương nhân và thủy thủ, cùng với những khách lữ hành kém may mắn hoặc không đủ khôn ngoan để kiếm một chỗ ngủ cách xa Đêm Thống Khổ.

“Cái cửa liệu có trụ được không?” cô hỏi.

“Có hoặc không,” Illaoi đáp, bà ta hướng đến một bức tượng đầy xúc tu ở cuối điện thờ. Miss Fortune cố nắm bắt ý nghĩa của nó, nhưng đành bỏ cuộc khi mắt cô lạc lối giữa một rừng xoắn ốc và đường cong.

“Đó không phải một câu trả lời.”

“Đó là câu trả lời duy nhất ta có,” Illaoi đặt viên đá vào một cái hõm trong bức tượng và ngồi xuống, đập tay lên đùi và ngực theo một nhịp điệu kỳ quái. Những người trong đền làm theo bà, vỗ tay vào da trần, giậm chân và nói bằng thứ ngôn ngữ cô không hiểu.

“Họ đang làm gì thế?”

“Đem lại cho thế giới này một vài chuyển động,” Illaoi đáp. “Nhưng chúng tôi cần thời gian.”

“Các người sẽ có nó,” Miss Fortune hứa.

Lucian thấy những cái móc cắm sâu vào thịt. Lạnh lẽo hơn cả băng giá phương Bắc và đau đớn hơn gấp đôi. Tay của Cai Ngục Xiềng Xích xiết quanh cổ anh, làn da anh bỏng rát khi nó chạm vào. Anh thấy sức lực bị rút đi, nhịp tim chậm lại.

Thresh nhấc bổng anh lên và giơ cao cây đèn lồng, sẵn sàng đón nhận linh hồn anh. Những đốm sáng đang rên rỉ trong đó cuộn xoáy vì kích động, những gương mặt và bàn tay áp vào lớp kính.

“Ta đã tìm kiếm linh hồn ngươi từ lâu, thợ săn bóng tối,” Thresh nói. “Nhưng giờ mới là đúng lúc để chiếm lấy nó.”

Mắt Lucian mờ đi, anh thấy linh hồn mình bị lột khỏi cơ thể. Anh vùng vẫy để giữ nó lại, nhưng Cai Ngục Xiềng Xích đã thu thập linh hồn từ hàng ngàn đời nay và biết rõ kỹ thuật đó hơn bất kỳ ai.

“Cố nữa đi,” Thresh nói trong niềm vui thích bệnh hoạn. “Linh hồn của ngươi sẽ cháy sáng hơn khi ngươi chống lại.”

Lucian cố nói điều gì, nhưng không lời nào thoát ra được khỏi miệng, chỉ có một hơi thở nhẹ ấm áp mang theo linh hồn anh.

Một lưỡi hái sáng lấp lánh trôi nổi trên khoảng không phía trên Lucian, một thứ vũ khí chết chóc cho các linh hồn. Lưỡi hái run lên vì mong đợi.

Lucian…

Giọng nói đó. Giọng nói của cô.

Tình yêu của em….

Lưỡi hái tử thần của Thresh xoay qua xoay lại, tìm một góc thích hợp để cắt linh hồn ra khỏi thể xác.

Lucian lấy lại hơi thở khi anh thấy một gương mặt xuất hiện trong lồng đèn. Một gương mặt giữa hàng ngàn gương mặt khác, nhưng gương mặt đó lại có nhiều động lực hơn bất kỳ ai để chen lên trước.

Đôi môi đầy đặn, đôi mắt hình trái hạnh, van nài anh hãy sống.

“Senna…” Lucian hổn hển.

Hãy để em làm tấm khiên cho anh.

Trong thoáng chốc, anh hiểu điều có muốn nói.

Liên kết giữa họ mạnh mẽ như khi họ sát cánh bên nhau săn đuổi những sinh vật của bóng đêm.

Với chút sức tàn, Lucian với tay lên mở mặt dây chuyền đeo trên cổ. Ánh bạc lấp lánh dưới trăng.

Cai Ngục Xiềng Xích thấy có gì đó không đúng và rít lên giận dữ.

Lucian còn nhanh hơn.

Anh dùng sợi dây như một cái ná, nhưng thay vì bắn ra một viên đạn chì, anh quất nó vào cánh tay đang giữ cây đèn. Trước khi Thresh có thể hất nó ra, Lucian rút mũi dùi bạc từ trong áo choàng ra và cắm ngập nó vào cổ tay con ma.

Cai Ngục Xiềng Xích gào lên đau đớn, một cảm giác hắn đã lãng quên mười nghìn năm nay. Hắn buông Lucian ra và quằn quại khi vô số linh hồn bị giam trong cây đèn lồng bất chợt tìm ra cách để đánh trả kẻ đã hành hạ họ.

Lucian cảm thấy linh hồn trở lại với thân xác và há miệng hít vào từng ngụm lớn không khí, như một người chết đuối vùng vẫy nổi lên khỏi mặt nước.

Nhanh lên, tình yêu của em. Hắn mạnh quá…

Thị giác của anh trở lại, rõ ràng hơn bao giờ hết. Lucian chộp lấy cặp súng trên mặt đất. Anh bắt lấy khoảnh khắc ngắn ngủi gương mặt Senna xuất hiện trong lồng đèn và ghim nó vào trong tim.

Gương mặt cô sẽ không bao giờ lu mờ trong ký ức của anh nữa.

“Thresh,” anh nói, nhắm kỹ cả hai khẩu súng.

Cai Ngục Xiềng Xích ngẩng lên, đôi mắt trống rỗng sáng lên cơn thịnh nộ vì sự thách thức của đám linh hồn. Hắn nhìn chằm chằm vào Lucian và giơ cây đèn lên, nhưng những linh hồn nổi loạn đã xua tan mọi sự bảo vệ nó có thể tạo ra.

Lucian bắn ra một chuỗi phát súng chính xác.

Chúng thiêu đốt lớp áo choàng của Cai Ngục Xiềng Xích và vùi thân thể ma quái của hắn trong hỏa ngục ánh sáng. Lucian bước lại phía Thresh, hai khẩu súng liên tục khạc lửa.

Gào thét trong đau đớn, Cai Ngục Xiềng Xích bỏ chạy khỏi cuộc oanh tạc không ngừng của Lucian, hắn bất lực trong việc kháng cự những vũ khí mang quyền năng cổ xưa.

“Cái chết dành cho ngươi,” Lucian nói. “Hãy chào đón nó. Đừng lo lắng, ta đảm bảo nó sẽ nhanh chóng thôi.”

Thresh thốt ra một tiếng hú cuối cùng trước khi nhảy khỏi cây cầu, rơi xuống thành phố bên dưới như một ngôi sao chổi rực cháy.

Lucian nhìn theo đến khi Màn Sương Đen nuốt chửng hắn.

Anh quỳ xuống.

“Cảm ơn, tình yêu của anh,” Lucian dịu dàng nói. “Ánh sáng của anh.”

Tường ngôi đền rung lên trước đợt tấn công dữ dội. Sương đen rỉ ra giữa những khe ván và qua những vết rạn trên kính cửa sổ. Khung cửa run rẩy. Móng vuốt của màn sương len qua thớ gỗ. Tiếng gào thét vang vọng như một cơn cuồng phong đập vào mái đền.

“Bên đó!” Miss Fortune hét to khi một đám sinh vật trong sương mù với cặp mắt đỏ rực chui qua một lỗ hổng trên bức tường từng để một dãy tủ trà từ Ionia chuyển đến.

Cô nhảy vào giữa đám hồn ma. Cứ như không mặc gì nhảy xuống một hố băng vậy. Ngay cả những cái chạm nhẹ nhất của đám người chết cũng hút cạn thân nhiệt và sự sống.

Lá bùa bằng san hô bỏng cháy nơi da cô.

Cô chém lưỡi kiếm của mình qua đám sinh vật và cảm nhận nó cắt qua chúng. Đạn của cô có thể vô dụng với đám người chết, nhưng thanh kiếm Demacia làm chúng bị tổn thương. Chúng lùi ra xa, rú rít ầm ĩ.

Người chết cũng biết sợ sao?

Dường như là có, vì chúng bỏ chạy trước lưỡi gươm sáng rực. Cô không để chúng làm thế, cô đâm và chém vào màn sương ở bất kỳ nơi nào nó định ùa vào.

“Thế đấy! Chạy đi!” cô hét to.

Một đứa nhóc la toáng lên và Miss Fortune lao vào màn sương để kéo nó lại. Cô túm lấy đứa trẻ và lăn trở lại nơi an toàn. Những móng vuốt sắc lạnh cào vào lưng cô, và Miss Fortune thở dốc khi cái lạnh tê tái lan tỏa khắp tứ chi.

Cô chém ra sau và nghe thấy tiếng kẻ chết nào đó rú lên.

Một người phụ nữ nấp sau ghế đón lấy đứa trẻ và Miss Fortune để cô ta lùi về chỗ trốn. Cô cố đứng dậy, cảm thấy mệt mỏi lan khắp cơ thể như căn bệnh truyền nhiễm.

Khắp nơi vang lên tiếng súng nổ và sắt thép chém vào nhau, những tiếng hú chết chóc và những tiếng kêu kinh hoàng.

“Sarah!” Rafen hét lên.

Cô quay lại nhìn và thấy thanh chắn bằng gỗ sồi đang nứt dọc ra. Rafen và một tá người nữa cố giữ cửa trước đợt công kích dồn dập, nhưng không ngăn được nó lõm dần vào trong. Những vết rạn xuất hiện và sương len lỏi chui qua. Một người bị nó tóm được và tiếng thét của anh ta ngưng bặt khi anh ta biến mất trong màn sương.

Cánh tay một người khác bị xé toạc khi anh ta cố gắng giúp người kia.

Rafen quay lại và đâm con dao găm qua lỗ hổng.

Bàn tay đầy móng vuốt giật thứ vũ khí vô dụng đó ra khỏi tay anh.

Một thân hình u ám lách mình qua cánh cửa đang từ từ rã nát và quơ tay vào ngực Rafen. Người chỉ huy phó gào lên đau đớn, màu sắc biến hết khỏi mặt anh.

Cô lảo đảo bước tới chỗ anh, cảm thấy sức lực của mình biến đâu mất. Lưỡi kiếm của cô chặt vào cánh tay ma, và sinh vật biến mất trong một tiếng rít. Rafen gục lên người cô, và cả hai ngã lăn ra giữa điện thờ.

Rafen thở hổn hển, khuôn mặt tái nhợt.

“Đừng chết, Rafen!” cô nghẹn ngào.

“Cần nhiều hơn là kẻ chết mới giết được tôi,” ông càu nhàu. “Chỉ là bị mấy thứ chết tiệt đánh trúng thôi mà.”

Có tiếng kính vỡ đâu đó bên trên. Đám sương đen cuộn lại bên trên thành một đống nanh vuốt và những cặp mắt đói khát.

Miss Fortune cố đứng dậy, nhưng cô hoàn toàn kiệt sức. Cô nghiến răng thất vọng. Số người của cô chỉ còn đếm trên đầu ngón tay, còn những người trốn ở đây thì không phải chiến binh.

Lũ người chết đang tiến vào.

Miss Fortune ngoái lại nhìn Illaoi.

Vị nữ tư tế được người của bà vây quanh, tất cả bọn họ vẫn đang làm cái nghi thức kỳ cục kia. Có vẻ nó sẽ chẳng đạt được gì. Bức tượng vẫn bất động.

Bà ta mong đợi điều gì chứ, nó sẽ sống dậy và đẩy lùi lũ người chết như mấy con người sắt ở Piltover sao?

“Dù bà có đang làm gì thì cũng làm nhanh lên!” cô quát.

Một phần mái đền bung ra và rơi như mưa xuống xung quanh. Một đám linh hồn bay vào trong và lao xuống như một cơn bão. Hồn ma và những thứ không thể hiểu nổi xoay vòng trong cơn lốc chết chóc ụp xuống đầu những người sống.

Cuối cùng thì cánh cửa cũng không chịu nổi và bật tung vào trong, những phiến gỗ khô lại và mục nát dưới bàn tay của tử thần. Tiếng tù và vang dội khắp ngôi đền, và Miss Fortune phải lấy tay bịt tai lại trước tiếng vọng inh ỏi của nó.

Hecarim đi nước kiệu vào trong đền, nghiền nát những người cố gắng dùng thân mình để giữ cửa. Linh hồn của họ bị hút vào trong thanh đao của Bóng Ma Chiến Tranh, và ngọn lửa lạnh trên lưỡi đao soi rọi điện thờ bằng thứ ánh sáng đáng ghê tởm. Lũ kỵ sĩ tử thần cưỡi ngựa đứng sau lưng hắn, và những linh hồn đã ở sẵn trong điện thờ lùi lại khi nhận ra hào quang khủng khiếp của Hecarim.

“Ta đã nói người chết không được chào đón ở đây,” Illaoi quát.

Miss Fortune ngước lên nhìn vị nữ tư tế đứng sừng sững cạnh cô, to lớn và oai vệ. Ánh sáng nhạt quấn lấy chân bà và lóe lên trên viên đá mà bà cầm trong đôi tay run run. Mạch máu nổi hằn trên cổ, quai hàm bạnh ra và mồ hôi tuôn ra như suối trên mặt bà.

Dù Illaoi đang làm gì, bà cũng phải trả một cái giá rất đắt.

“Linh hồn lũ phàm nhân này là của ta,” Hecarim nói, và Miss Fortune thấy mình run lên trước giọng nói như sắt thép của hắn.

“Không,” Illaoi nói. “Đây là ngôi nhà của Nagakabouros, người chống lại kẻ chết.”

“Người chết sẽ có thứ chúng muốn,” Hecarim nói, chỉ mũi đao vào tim của Illaoi.

Vị nữ tư tế lắc đầu.

“Không phải hôm nay,” bà nói. “Không phải khi ta vẫn đang chuyển động.”

“Ngươi không thể cản ta.”

“Điếc như một kẻ chết,” Illaoi mỉm cười khi vầng hào quang lớn dần đằng sau bà. “Ta không nói ta sẽ cản ngươi.”

Miss Fortune thấy bức tượng xoắn ốc tắm trong ánh sáng chói mắt. Ánh sáng trắng bốc lên từ bề mặt, và bóng đêm rút chạy khi nó lan đến. Cô lấy tay che mắt khi vùng sáng tỏa ra đối chọi với Màn Sương Đen, làm lộ ra những linh hồn ghê tởm bên trong đó. Ánh sáng lôi lũ người chết về phía trước, thanh tẩy thứ ma thuật hắc ám đã nguyền rủa họ thành xác sống từ lâu.

Cô nghĩ mình sẽ nghe thấy tiếng gào thét, nhưng thay vào đó những người chết khóc trong vui sướng khi linh hồn của họ được trả tự do. Ánh sáng trải khắp bốn bức tường vỡ nát của ngôi đền và khi nó chạm vào cô, Miss Fortune rên lên khi cái tê cóng chết chóc trong cơ thể cô bị trục xuất trong một luồng khí nóng và tràn đầy sức sống.

Ánh sáng của Nagakabouros tiến lại gần Hecarim, và Miss Fortune thấy hắn sợ hãi khi nghĩ tới sự chuyển đổi đó tác động đến mình như thế nào.

Còn gì đáng sợ hơn là thà rằng cứ bị nguyền rủa cho rồi?

“Ngươi có thể được tự do, Hecarim,” Illaoi nói, giọng bà căng lên vì sức chịu đựng đã đến giới hạn. “Ngươi có thể tiếp tục sống trong ánh sáng như con người ngươi luôn mơ tới trước khi khổ đau và điên loạn biến đổi ngươi.”

Hecarim gầm lên và quét lưỡi đao vào cổ Illaoi.

Thanh kiếm của Miss Fortune ngăn hắn lại trong một cú va chạm tóe lửa. Cô lắc đầu.

“Biến khỏi thành phố của ta,” cô nói.

Cây đao của Hecarim thu lại chuẩn bị ra đòn tiếp, nhưng trước khi hắn kịp làm thế, ánh sáng đã xuyên được qua tấm màn bóng tối. Hắn hét vang trong đau đớn và lùi xa khỏi luồng sáng cháy bỏng. Hình dáng tên kỵ sĩ bóng đêm mờ dần, như hai bóng nến lập lòe trên cùng một tấm màn.

Miss Fortune liếc qua người kỵ sĩ cao lớn, mặc giáp vàng và bạc. Một người trẻ tuổi, đẹp trai và tự hãnh với đôi mắt đen và một tương lai huy hoàng phía trước.

Chuyện gì đã xảy ra với anh ta?

Hecarim rống lên và phi ra khỏi điện thờ.

Đám kỵ sĩ tử thần và bóng tối chạy theo hắn, một đám những linh hồn gào rít cũng tiếp bước chúng.

Ánh sáng của Nagakabouros lan khắp Bilgewater như bình minh đang tới. Không ai chứng kiến cảnh này lại từng cảm thấy một cảnh tượng tươi đẹp đến thế; những tia nắng đầu tiên sau cơn bão, những hơi ấm đầu tiên sau một mùa đông ảm đạm.

Màn Sương Đen rút đi, cùng với một xoáy lốc những linh hồn đang hoảng loạn. Đám người chết lần lượt trở nên điên cuồng, một số tên vùng vẫy để quay lại nơi từ đó chúng đã đến, trong khi số khác thì tìm kiếm sự giải thoát trong ánh sáng.

Lặng im phủ xuống khi Màn Sương Đen bay ra đại dương, quay về hòn đảo bị nguyền rủa mà nó thống trị.

Mặt trời nhô lên nơi chân trời phía Đông, và những cơn gió trong lành thổi qua thành phố khi người dân Bilgewater cùng thở phào.

Đêm Thống Khổ đã qua.

Im lặng tràn ngập ngôi đền, không khí yên ắng tương phản hoàn toàn với cuộc náo loạn chỉ vài phút trước đó.

“Kết thúc rồi,” Miss Fortune.

“Cho đến lần sau thôi,” Illaoi mệt mỏi đáp. “Sự thèm khát của Màn Sương Đen luôn âm ỉ như một cơn bệnh.”

“Bà đã làm gì?”

“Làm điều phải làm.”

“Dù gì thì cũng cảm ơn bà.”

Illaoi lắc đầu và vòng cánh tay mạnh mẽ qua vai Miss Fortune.

“Cảm tạ nữ thần ấy,” Illaoi nói. “Hiến tế cái gì đi. Cái gì to vào.”

“Tôi sẽ làm thế,” Miss Fortune đáp.

“Tốt hơn là cô nên làm. Thần linh của tôi không thích những lời hứa suông đâu.”

Một lời đe dọa ngấm ngầm, và trong thoáng chốc cô nghĩ đến việc bắn một viên đạn vào đầu bà ta. Nhưng trước khi cô có thể nhích tay đến báng súng, Illaoi đã đổ gục xuống. Miss Fortune nắm lấy tay bà, nhưng vị nữ tư tế quá to con để cô đỡ được một mình.

Cả hai ngã xuống sàn nhà bằng vỏ sò.

“Rafen, giúp tôi kéo bà ta dậy,” cô nói.

Hai người vực Illaoi dựa vào một cái ghế gãy, càu nhàu vì phải gắng sức di chuyển thân hình khổng lồ của bà ta.

“Quý Bà Râu nổi lên khỏi mặt biển…” Rafen nói.

“Đừng có ngu ngốc mãi thế,” Illaoi nói. “Ta đã bảo Nagakabouros không sống dưới biển.”

“Vậy thì ở đâu?” Rafen hỏi. “Trên trời sao?”

Illaoi lắc đầu và đấm vào ngực anh ta. Rafen co rúm lại vì đau

“Ngươi sẽ tìm thấy thần ở đó.”

Illaoi nở nụ cười và nhắm mắt lại.

“‘Bà ta chết chưa?” Rafen hỏi, tay vẫn đang xoa ngực.

Illaoi giang tay tát anh ta một cái.

Rồi bà ta bắt đầu ngáy như sấm.

Lucian ngồi trên thành cầu ngắm nhìn thành phố lộ ra sau Màn Sương Đen. Mới đầu anh ghét Bilgewater, nhưng cũng nó cũng có một vẻ đẹp nào đó khi ánh nắng chan hòa trên những mái ngói, tạo nên một quầng sáng ấm áp màu hổ phách.

Thành phố lại hồi sinh sau mỗi lần Đêm Thống Khổ tan biến.

Một cái tên thích hợp cho quãng thời gian đáng sợ đó, nhưng chỉ diễn tả được một phần sự kinh khủng ở nơi xuất xứ của nó. Liệu có ai ở đây thực sự hiểu được tấn bi kịch trên Quần Đảo Bóng Đêm?

Và dù có đi nữa, liệu họ sẽ quan tâm sao?

Anh quay lại khi nghe có tiếng bước chân tiến đến.

“Trên này nhìn xuống khá đẹp đấy,” Miss Fortune nói.

“Chỉ ở trên này nhìn xuống mới thế thôi.”

“Phải, đúng là một ổ rắn độc,” Miss Fortune tán đồng. “Có người tốt kẻ xấu, nhưng ta đảm bảo có ít kẻ xấu hơn nhiều đấy.”

“Tôi nghe nói cô đã khơi mào một cuộc chiến,” Lucian nói. “Có người sẽ nói làm thế giống như đốt nhà để bắt chuột vậy.”

Anh thấy cô nổi giận, nhưng chỉ là thoáng qua

“Tôi đã nghĩ mình làm điều tốt cho tất cả mọi người,” cô vừa nói vừa ngồi lên thành cầu, “nhưng tôi chỉ khiến họ tồi tệ hơn. Tôi cần phải hành động, kể từ bây giờ.”

“Đó là lý do cô đi ra ngoài khi Màn Sương Đen tràn tới?”

Cô gái suy nghĩ một lát.

“Lúc đầu có lẽ là không,” cô đáp. “Tôi đã gỡ một con cá chình đao ra khỏi móc câu khi tôi giết Gangplank, và nếu tôi không giữ nó và đưa nó lại chỗ cũ, nó sẽ cắn rất nhiều người tốt.”

“Một con cá chình đao?”

“Ý tôi là khi hạ bệ Vua Hải Tặc, tôi hoàn toàn không biết điều gì sẽ xảy ra sau khi hắn chết. Tôi không quan tâm,” cô nói. “Nhưng tôi đã thấy điều gì đang xảy ra ở đây khi không còn ai kiểm soát nữa. Cả thành phố tự cắn xé lẫn nhau. Bilgewater cần một người mạnh mẽ cai trị. Chẳng có lý do gì mà người đó không thể là tôi. Cuộc chiến chỉ mới bắt đầu, và cách duy nhất để nó sớm kết thúc là tôi giành chiến thắng.”

Thêm một thoáng im lặng.

“Câu trả lời của tôi là không.”

“Tôi đâu có hỏi gì.”

“Có chứ,” Lucian nói. “Cô muốn tôi ở lại và giúp cô thắng cuộc chiến, nhưng tôi không thể. Cuộc chiến này là của cô, không phải của tôi.”

“Có thể đấy,” Miss Fortune nói. “Tiền công hậu hĩnh và anh có thể giết rất nhiều kẻ xấu. Và cứu vớt nhiều linh hồn vô tội.”

“Tôi chỉ cần cứu duy nhất một linh hồn thôi,” Lucian nói. “Và tôi sẽ không làm được điều đó ở Bilgewater.”

Miss Fortune gật đầu và giơ tay ra.

“Vậy tôi xin chào từ biệt và chúc anh đi săn thành công,” cô đứng dậy và phủi bụi trên giày. “Tôi hy vọng anh sẽ tìm được thứ anh đang kiếm. Nhưng nhớ là anh có thể đánh mất bản thân mình vì báo thù đấy.”

Lucian nhìn cô bước trở về tàn tích của ngôi đền trong khi những người sống sót ùa ra, mắt hấp háy trong ánh sáng ban ngày. Cô nghĩ mình có thể hiểu động cơ của anh, nhưng cô chẳng biết gì cả.

Báo thù? Còn hơn cả báo thù nữa chứ.

Người anh yêu đang bị hành hạ bởi một hồn ma bất tử, một sinh vật cổ xưa thấu hiểu nỗi thống khổ hơn bất kỳ ai.

Miss Fortune chẳng thể hiểu được một phần nỗi đau của anh.

Anh đứng dậy, đưa mắt nhìn ra biển.

Đại dương tĩnh lặng như một tấm vải màu ngọc bích trải dài trước mặt.

Mọi người đã xuống bến tàu, sửa chữa thuyền bè và dựng lại nhà. Bilgewater chưa bao giờ ngừng lại dù là sau Đêm Thống Khổ. Mắt anh tìm kiếm trong rừng cột buồm để xem có con tàu nào không bị hỏng nặng lắm không. Có lẽ một viên thuyền trưởng đang tuyệt vọng sẽ bị thuyết phục để chở anh đến nơi cần đến.

“Anh đến đây, ánh sáng của anh,” Lucian nói. “Và anh sẽ trả tự do cho em.”

Tay ngư dân càu nhàu khi dùng tời kéo người đàn ông to lớn lên thuyền. Dây thừng căng ra và trán gã lấm tấm mồ hôi giữa trời lạnh khi gã quay cái tay quay.

“Râu ria quỷ thần ơi, đúng là một thằng khốn to lớn, chắc chắn là thế,” gã nói, cài một cái móc vào áo giáp của người đó và kéo ông ta lên sàn thuyền. Gã vẫn phải cảnh giác lũ thú săn mồi, cả trên và dưới mặt nước.

Màn Sương Đen vừa biến khỏi đường chân trời thì hàng đống thuyền đã đổ ra biển. Mặt nước bập bềnh đầy những của cải bị cướp bóc, và nếu không nhanh chân, bạn sẽ chẳng xơi được miếng nào.

Gã đã nhắm đến người đàn ông này trước và đã phải vượt qua sáu kẻ khác cũng có ý định tương tự. Quỷ tha ma bắt những kẻ định cướp phần thưởng này của gã đi.

Người đàn ông to lớn đang bám lấy một thứ trông như di hài của một con Krakenwyrm khổng lồ. Những xúc tu của nó nhão nhoét và căng phồng đầy hơi độc, thứ đã giúp thân thể to lớn mang giáp của ông ta nổi trên mặt nước.

Gã để ông ta nằm trên sàn tàu dọc theo ụ súng trước khi đưa mắt quan sát khắp người ông ta.

Một bộ giáp sắt nặng nề, chắc chắn ủng viền lông thú và, trên tất cả, cây búa tuyệt đẹp kẹt trong lớp dây đai của bộ giáp.

“À, phải, có thể kiếm được vài đồng Kraken đấy,” gã vừa nói vừa nhảy múa tung tăng quanh thuyền. “Thực sự là vài đồng Kraken đấy!”

Người đàn ông ho ra vài ngụm nước biển mằn mặn.

“Ta vẫn còn sống sao?” ông ta hỏi.

Tay ngư dân ngừng điệu nhảy của mình và đặt tay lên con dao dài nơi thắt lưng. Gã dùng nó để mổ bụng cá. Chẳng có lý gì gã không thể dùng nó để rạch họng ai đó. Đâu phải lần đầu một kẻ hôi của tiễn một người về với Quý Bà Râu để lấy phần thưởng cho mình.

Ông ta mở mắt.

“Cứ thử chạm vào con dao đó lần nữa và ta sẽ cắt ngươi ra nhiều mảnh hơn cả con Krakenwyrm chết tiệt kia.”

Nguồn: League Of Legends Universe

Chuyên mục Hồ Sơ Nhân Vật Liên Minh Huyền Thoại

Website: hosonhanvat.vn

Get real time updates directly on you device, subscribe now.

Bình Luận
Loading...