Hồ sơ – Tiểu sử – Truyện Ngắn: GANGPLANK – HIỂM HỌA VÙNG SALTWATER

0 85

Vừa hung bạo vừa khó đoán, kẻ tự xưng hoàng đế cướp đoạt Gangplank cai trị Bilgewater trong sự sợ hãi, bạo lực và xảo trá. Hắn đi tới đâu, chết chóc và hủy diệt theo tới đấy, và cùng với đó là sự ô uế cùng tiếng xấu tới mức chỉ thấp thoáng hình ảnh cánh buồm đen nơi chân trời cũng gây nên sự hoảng loạn cho cả những thủy thủ đoàn cứng cỏi nhất.

Hồ sơ - Tiểu sử - Truyện Ngắn: GANGPLANK - HIỂM HỌA VÙNG SALTWATER - ho so tieu su cau chuyen cua GANGPLANK -

“Bao nhiêu sinh mạng và tàu chiến Noxus đã tan nát dưới chân ta lúc ngươi còn đang đóng bỉm đó, nhóc. Ngươi không muốn dây vào ta đâu.”~ Gangplank

  • Tên Tướng: Gangplank
  • Chủng tộc: Nhân Loại
  • Vai Trò: Đấu Sĩ
  • Vùng Đất: Bilgewater

Tiểu Sử GANGPLANK – HIỂM HỌA VÙNG SALTWATER

Tàn nhẫn và khó đoán, gã hải tặc vương thất thế Gangplank khiến mọi người khiếp sợ. Bất kỳ chốn nào hắn đặt chân tới, chết chóc và tàn phá luôn đồng hành. Ác danh của hắn lớn đến nỗi những thủy thủ đoàn cứng cỏi nhất cũng phải hoảng loạn khi thấy cánh buồm đen thấp thoáng phía chân trời.

Làm giàu bằng cách cướp bóc trên các tuyến đường giao thương của Mười Hai Vùng Biển, Gangplank đã gây thù chuốc oán với không ít kẻ địch hùng mạnh. Ở Ionia, hắn chọc giận Hội Bóng Tối ghê gớm sau khi lật tung Điện Hung Đao, và nghe đồn chính Đại Nguyên Soái Noxus đã thề sẽ phanh thây hắn sau khi tên hải tặc đánh cắp Leviathan – soái hạm của Swain, đồng thời là niềm tự hào của thủy quân Đế Chế.

Thù hận chất chồng là thế, nhưng chưa ai đưa được hắn ra trước công lý cả, mặc cho các thích khách, thợ săn tiền thưởng, thậm chí nguyên một hạm đội được cử đi săn đuổi. Gangplank tận hưởng sự khoái trá độc địa khi tiền thưởng cho cái đầu của mình ngày một tăng, và đóng đinh nó trên Bảng Truy Nã ở Bilgewater để tất cả cùng thấy mỗi khi hắn quay về bến cảng với những con tàu chở nặng chiến lợi phẩm.

Gần đây, Gangplank đã bị hạ bệ trước mưu đồ của thợ săn tiền thưởng Miss Fortune. Thuyền của hắn bị phá hủy trước sự chứng kiến của toàn thể dân Bilgewater, nhấn chìm đám thuộc hạ và đập tan hào quang bất bại hắn từng có. Giờ, khi đã thấy hắn cũng có thể bị thương tổn, các băng nhóm Bilgewater nổi dậy, xâu xé lẫn nhau để giành quyền thống trị thành phố cảng.

Dù chịu thương tích nặng nề từ vụ nổ, Gangplank vẫn sống sót. Mang trên mình vô số vết sẹo mới, cùng cánh tay kim loại thay thế phần thân thể đã mất, hắn quyết tâm gầy dựng thế lực, nhằm đoạt lại thứ hắn cho là phải thuộc về mình, và điên cuồng trừng phạt tất cả những kẻ dám chống đối.

Truyện Ngắn của GANGPLANK – HIỂM HỌA VÙNG SALTWATER 1: MÁU ĐỔ TRÊN MẶT NƯỚC

Tên thuyền trưởng Noxus to con co rúm người, thả rơi cây rìu khi bị Gangplank đâm ngập thanh đoản kiếm vào bụng. Hắn bật lên một câu chửi rủa chẳng ai nghe nổi, bong bóng máu trào ra từ cặp môi xăm trổ.

Gangplank cười khinh bỉ, rút kiếm ra và đạp đối thủ xuống sàn tàu. Tay chiến binh đổ gục trong tiếng giáp sắt kêu loảng xoảng, máu nhuốm vào vũng nước biển đang lan khắp boong trước. Thân thuyền sơn đen của Gangplank lù lù ngay đó, khóa chặt vào chiến hạm địch bằng móc néo và dây thừng.

Gangplank nghiến chặt hàm răng ố vàng dể nén cơn đau – gã Noxus suýt thì thắng được hắn. Dù gì đi nữa, hắn cũng không thể để bọn tay chân thấy mình yếu đuối. Hắn nặn ra một nụ cười xấu xa.

Gió mưa quất ràn rạt khi hắn quay sang quan sát lũ tàn quân Noxus. Hắn đã thách thức thuyền trưởng của chúng trong một trận đấu sinh tử, và đã thắng, chiến ý của chúng hoàn toàn tiêu tan.

“Thuyền giờ là của ta,” Gangplank gầm lên, đủ lớn để át cơn cuồng phong. “Ai ý kiến gì không?”

Một chiến binh cao lớn xăm mặt hình huyết giáo và mặc bộ giáp gai nhìn thẳng vào Gangplank.

“Chúng ta là con trai của Noxus,” hắn thét vang. “Chúng ta thà chết chứ không để thuyền bị chiếm bởi những kẻ như ngươi!”

Gangplank nhíu mày, rồi nhún vai.

“Cũng được,” hắn quay đi.

Gangplank chiêu đãi đám thuộc hạ bằng một nụ cười hiểm độc.

“Diệt sạch,” hắn ra lệnh. “Thiêu rụi thuyền luôn!”

Truyện Ngắn của GANGPLANK – HIỂM HỌA VÙNG SALTWATER 2: THỦY TRIỀU RỰC LỬA

TÁC GIẢ: SCOTT HAWKES, GEORGE KRSTIC, ANTHONY REYNOLDS, VÀ JOHN O’BRYAN

CẢNG GIẾT MỔ, CÔNG VIỆC, NGƯỜI BẠN CŨ
HỒI MỘT – PHẦN MỘT

Những bến cảng giết mổ của Thị Trấn Ổ Chuột; chúng bốc ra thứ mùi tệ hại như chính cái tên vậy.

Và ta đang ở nơi đây ẩn mình trong bóng tối, hít thở mùi hôi thối từ máu và mật của những con rắn biển bị làm thịt.

Ta ẩn mình sâu hơn vào bóng tối, kéo vành mũ của mình thấp xuống che mặt khi những gã trong băng Móc Câu Lởm Chởm được vũ trang tận răng dòm ngó qua.

Những gã này có tiếng là man rợ. Nếu đánh nhau một cách sòng phẳng, chúng có thể hạ gục ta, nhưng ta vốn không giỏi việc chơi sòng phẳng, và ta cũng không ở đây để đánh nhau. Không phải lần này.

Vậy thứ gì đã mang ta tới đây, tới một trong những quận bẩn thỉu nhất ở Bilgewater?

Tiền. Chứ còn gì nữa?

Nhận lời công việc này là một canh bạc thực sự, nhưng thù lao thì đủ hậu hĩnh để ta không thể nhắm mắt làm ngơ. Bên cạnh đó, ta cần phải thám thính địa điểm này để có trong tay những quân bài ưng ý nhất.

Ta không hề có ý muốn nán lại. Ta muốn đột nhập rồi thoát ra càng nhanh gọn càng lặng lẽ càng tốt. Khi nhiệm vụ đã hoàn tất, ta sẽ nẫng khoản thù lao và bỏ đi trước bình minh. Nếu mọi chuyện suôn sẻ, ta sẽ cao chạy xa bay được một nửa Valoran trước khi có ai đó biết về vụ trộm.

Những gã côn đồ kia sẽ rẽ hướng ở góc trại giết mổ. Có nghĩa rằng ta có hai phút trước khi chúng quay đầu lại – quá đủ thời gian rồi.

Mặt trăng bạc ẩn hiện sau tầng mây, che phủ cầu cảng trong bóng tối. Những thùng hàng sản phẩm trong ngày nằm rải rác dọc bến cảng. Chúng khiến việc ẩn nấp dễ dàng hơn.

Ta nhìn thấy bộ phận cảnh giới đứng trên nóc nhà kho chính, có những bóng đen đứng canh, tay cầm cung nỏ. Chúng đang tán gẫu ồn ào như lũ hàng tôm hàng cá. Thậm chí nếu ta đeo chuông vào thì lũ ngốc này cũng chẳng thể nghe thấy tiếng động gì.

Chúng nghĩ rằng chẳng có ai đủ ngu ngốc mà bén mảng tới đây.

Một cái xác cồng kềnh được treo cao quá đầu người, lời cảnh báo cho mọi người đều thấy. Cái xác xoay chậm rãi theo những cơn gió đêm từ cảng thổi vào. Quả là một cảnh tượng xấu xí. Một cái móc câu khổng lồ, thứ dùng để bắt lũ cá quỷ, giữ cho cái xác lơ lửng trên cao.

Bước qua đống xiềng xích rỉ sét nằm trên tảng đá ướt, ta đi vào giữa cặp cần cẩu cao chót vót. Chúng được dùng để chuyên chở những thủy quái khổng lồ vào các trại giết mổ để xẻ thịt. Chính những nhà xưởng thấp thoáng này là nguồn gốc của mùi hôi thối khủng khiếp ám lên mọi thứ nơi đây. Ta sẽ cần phải tự mua cho bản thân một bộ đồ mới khi việc này kết thúc.

Trên vịnh, vượt qua những vùng nước bẩn của cảng giết mổ, hàng chục con tàu đang neo đậu, những chiếc đèn lồng của chúng đung đưa nhẹ nhàng. Ta dán mắt vào một trong số chúng; một con tàu chiến loại Galleon to khủng khiếp được sơn đen tuyền. Ta biết con tàu đó thuộc về ai. Tất cả người dân ở Bilgewater đều biết điều đó.

Ta dành ra một khắc để hả hê. Ta chuẩn bị cướp từ một trong những kẻ quyền lực nhất trong thị trấn. Luôn luôn có một sự hồi hộp nhất định từ việc đùa giỡn với tử thần.

Đúng như dự tính, nhà kho chính được khóa chặt hơn cả đức hạnh của một quý bà. Lính canh đứng ở mọi lối vào. Cửa thì đều bị khóa và chặn. Với bất kì ai ngoài ta, việc đột nhập là vạn bất khả thi.

Ta luồn vào một hẻm mù đối diện nhà kho. Đây là một ngõ cụt, và nó không quá tối như ta mong đợi. Nếu ta vẫn kẹt ở đây khi lũ lính lác quay lại, chúng sẽ thấy ta mất. Và nếu chúng tóm được ta, điều tốt nhất ta có thể hi vọng là một cái chết nhẹ nhàng. Rất có khả năng, ta sẽ được đưa tới trình diện hắn… đó sẽ là một kết cục đau đớn và thảm khốc hơn rất nhiều.

Bí quyết, như mọi khi, là không để bị bắt.

Và ta đã nghe thấy chúng. Lũ tay sai đang quay ngược trở lại sớm hơn dự kiến. Ta chỉ có cùng lắm là vài giây. Ta chụp một quân bài trong ống tay áo và đảo nó giữa những ngón tay; điều này tự nhiên như hơi thở vậy. Đây là phần dễ nhất, phần còn lại thì không vội được.

Ta để tâm trí mình trôi dạt khi quân bài bắt đầu phát sáng. Áp lực xuất hiện xung quanh ta, và ta gần như đã vượt qua với dự cảm về mọi nơi. Nhắm hờ đôi mắt, ta tập trung, và tưởng tượng trong đầu hình ảnh nơi ta cần đến.

Và rồi, có một sự xáo trộn quen thuộc trong ruột khi ta dịch chuyển. Không khí đảo chỗ, và ta đã ở trong nhà kho. Biến mất không dấu vết.

Chết tiệt, ta giỏi quá.

Một gã trong băng Móc Câu Lởm Chởm ngoài kia có thể đã liếc mắt vào con hẻm và nhận ra một quân bài rơi xuống đất, nhưng có lẽ là không.

Cần một chốc lát để ta quen với mọi thứ xung quanh. Ánh đèn lờ mờ từ những chiếc lồng đèn treo bên ngoài len lỏi qua những khe nứt trên vách tường. Đôi mắt ta dần quen với bóng tối.

Nhà kho chồng chất chật cứng vàng bạc châu báu từ khắp Mười Hai Đại Dương: những bộ giáp sáng loáng, những bức tranh quý ngoại quốc, và những thước vải óng ánh. Mọi thứ ở đây đều có giá trị liên thành, nhưng không phải điều ta nhắm tới.

Sự chú ý của ta hướng tới các cánh cửa nhập kho ở phía trước, nơi ta biết rằng mình sẽ tìm thấy những thứ được nhập về gần đây nhất. Ta để những ngón tay chạy dọc theo hàng đống thùng các-tông và thùng gỗ… cho đến khi chạm vào một hộp gỗ nhỏ. Ta có thể cảm thấy sức mạnh đang tỏa ra từ bên trong. Đây chính là thứ mà ta nhắm tới.

Ta tháo chốt mở nắp hộp.

Phần thưởng của ta đã lộ diện; một con dao được chế tác rất tinh xảo, nằm ngay ngắn trên một tấm nhung đen. Ta với tới nó-

Lạch-cạch.

Ta cứng đờ người. Không thể nhầm lẫn được âm thanh đó.

Ngay cả khi hắn chưa mở miệng ra, ta đã biết ai đang đứng sau mình trong bóng tối.

“T.F.,” Graves nói. “Đã lâu không gặp.”

SỰ CHỜ ĐỢI, TÁI NGỘ, PHÁO HOA
HỒI MỘT – PHẦN HAI

Ta đã ở đây hàng tiếng đồng hồ. Những gã khác có thể đã chết vì buồn chán nếu chỉ đứng một chỗ lâu như thế, nhưng ta lại có sự phẫn nộ bầu bạn. Ta sẽ không rời khỏi nơi này cho đến khi giải quyết mọi chuyện.

Sau nửa đêm đã khá lâu, con rắn độc cuối cùng cũng lộ diện. Hắn đột nhiên xuất hiện ở nhà kho, sử dụng cái chiêu trò ảo thuật cũ rích. Ta đã thủ sẵn khẩu súng săn của mình, sẵn sàng để đảo lộn mọi thứ. Sau ngần ấy năm tìm kiếm gã phản trắc khốn khiếp, giờ hắn đã ở đây, đứng chết ngắc trước họng khẩu súng Định Mệnh.

“T.F.,” Ta nói. “Đã lâu không gặp.”

Ta đã chuẩn bị sẵn sàng những lời lẽ hay ho hơn cho khoảnh khắc này. Tức cười thay, chúng dường như đã trôi tuột khỏi tâm khi ngay thời điểm ta thấy hắn.

Nhưng T.F? Khuôn mặt của hắn chẳng biểu lộ gì. Không sợ hãi, không hối hận, không có chút bất ngờ. Thậm chí ngay cả khi phải đối mặt với một khẩu súng đã lên nòng. Quỷ tha ma bắt nhà hắn.

“Malcolm, mày đã đứng ở đây bao lâu rồi?” hắn hỏi, tiếng cười trong giọng nói hắn khiến ta nổi giận.

Ta ngắm bắn. Ta hoàn toàn có thể bóp cò và giết chết hắn như một kẻ cặn bã.

Lẽ ra ta nên làm thế.

Chưa phải lúc này. Ta cần phải nghe hắn nói rõ mọi thứ. “Tại sao mày lại làm vậy?” Ta vẫn hỏi, dù biết chắc chắn rằng hắn sẽ lại xoay ra một điều gì đó khôn ngoan.

“Khẩu súng có thực sự cần thiết không? Tao tưởng chúng ta là bằng hữu.”

Bằng hữu. Gã khốn này đang nhạo báng ta. Giờ ta thực sự muốn thổi tung cái đầu tự mãn của hắn – nhưng cần phải giữ bình tĩnh đã.

“Mày trông chỉn chu hơn trước nhiều đấy,” hắn nói.

Ta nhìn xuống những vết cắn của cá quỷ trên quần áo mình. Ta đã phải bơi để vượt qua lũ lính canh. Từ khi dành dụm được chút tiền, T.F đã vô cùng khắt khe với vẻ bề ngoài của hắn. Ta vô cùng nóng lòng muốn thấy cảnh hắn chịu khốn đốn. Nhưng trước hết, ta muốn câu trả lời.

“Nói cho tao lý do mày để tao giơ đầu chịu báng, hoặc khuôn mặt thanh tú của mày sẽ vương vãi khắp nơi.” Đây là cách bạn phải làm để đối phó với T.F. Để cho hắn khoảng trống, và hắn sẽ giật dây bạn không biết đường nào mà lần.

Sự lươn lẹo của hắn thực sự rất hữu dụng khi chúng tôi còn là cộng sự.

“Mười năm khốn khiếp trong Ngục Tối! Mày có biết điều đó khiến tao thay đổi thế nào không?”

Hắn không thể biết được. Lần đầu tiên, hắn cứng họng không nói được gì. Hắn biết rằng mình đã làm sai.

“Chúng làm đủ thứ tệ hại với tao, những thứ khiến hầu hết lũ tù nhân phát điên. Thứ duy nhất giữ tao không sụp đổ là cơn giận trong mình. Và nghĩ về khoảnh khắc này, tại chính nơi đây.”

Và rồi gã khôn ngoan đáp lại: “Nghe như tao chính là nguyên nhân khiến mày vẫn còn sống. Có lẽ mày nên cảm ơn tao mới phải.”

Câu này khiến ta nổi điên lên, và gần như chẳng nhìn thấy gì nữa. Hắn đang cố gắng khiêu khích ta. Và rồi, khi ta mờ mắt vì giận dữ, hắn sẽ lại làm cái trò biến mất. Ta hít một hơi sâu và mặc kệ câu khiêu khích đó. Hắn tỏ ra ngạc nhiên rằng ta không cắn câu. Lần này, ta phải có được câu trả lời.

“Chúng trả cho mày bao nhiêu để bán đứng tao?” Ta gầm lên.

T.F đứng yên, mỉm cười, cố gắng câu thêm chút thời gian.

“Malcolm, tao sẽ rất vui nếu được tiếp tục câu chuyện này với mày, nhưng đây không phải là thời điểm và địa điểm thích hợp.”

Suýt nữa là quá trễ, ta nhận ra quân bài đang nhảy múa trên tay hắn. Ta bừng tỉnh ngay và bóp cò súng.

BLAM.

Quân bài của hắn biến mất. Suýt chút nữa lấy được cả cánh tay của hắn luôn.

“Đồ ngu!” hắn thét lên. Cuối cùng ta đã làm hắn mất bình tĩnh. “Mày vừa đánh thức cả cái hòn đảo chết tiệt này rồi! Mày không biết đây là lãnh địa của ai à?”

Ta không quan tâm.

Ta đã sẵn sàng cho phát bắn thứ hai. Ta chỉ nhìn loáng thoáng đôi tay của hắn chuyển động, và những quân bài phát nổ xung quanh ta. Ta bắn trả, không chắc rằng mình muốn hắn chết luôn hay chỉ ngắc ngoải nữa.

Trước khi ta có thể tìm thấy hắn trong đống khói bụi, vụn gỗ tung tóe và cơn cuồng nộ, cánh cửa bị đạp mở toang.

Một tá gã côn đồ ầm ầm lao vào, như để thêm phần hỗn loạn cho khung cảnh.

“Vậy mày thực sự muốn làm điều này sao?” T.F hỏi, sẵn sàng quăng một tay bài nữa về phía ta.

Ta gật đầu, và giữ chắc tay súng hướng về hắn.

Đã đến lúc giải quyết mọi thứ.

QUÂN BÀI NHẢY MÚA, BÁO ĐỘNG, XẢO THUẬT KHÉO LÉO
HỒI MỘT – PHẦN BA

Mọi thứ ngày càng trở nên tồi tệ. Một cách nhanh chóng.

Lũ Móc Câu Lởm Chởm đang tràn vào nhà kho, nhưng Malcolm chẳng mảy may để tâm đến chúng. Ta là điều duy nhất khiến hắn bận tâm.

Ta cảm nhận được phát bắn tiếp theo của Graves đang bay đến và xoay người né tránh. Tiếng nổ từ khẩu súng này thật đinh tai nhức óc. Một thùng gỗ nổ tan tành tại chính xác nơi ta đứng một tích tắc trước.

Ta đã thực sự tin rằng gã cộng sự cũ này muốn lấy mạng ta.

Nhào lộn qua một chồng ngà voi, ta lia ba lá bài về hướng của hắn. Trước khi chúng chạm đích, ta đã lại ẩn nấp sau những vật cản, tìm kiếm đường thoát thân. Ta chỉ cần một vài giây.

Hắn chửi thề ầm ĩ, nhưng những lá bài đó chẳng thể làm gì hơn ngoài việc cản bước hắn. Hắn vẫn luôn là một gã rất cứng cỏi. Và cả cứng đầu nữa. Chẳng bao giờ biết khi nào cần từ bỏ.

“Mày không chạy được đâu, T.F,” hắn rống lên. “Không phải lần này.”

Vậy đấy, cái tính cách không lẫn đi đâu được.

Dù thế thì hắn sai rồi – vẫn như mọi khi. Ta sẽ thoát thân sớm nhất có thể. Nói chuyện khi hắn đang sôi máu thế này thì chẳng có ích gì.

Một vụ nổ nữa, và những mảnh đạn nảy ra từ một bộ áo giáp Demacia vô giá, găm chặt vào tường và sàn nhà. Ta lách trái né phải, vừa chạy vừa tránh từ chỗ này qua chỗ khác. Hắn bám dính lấy ta, gầm lên những lời đe dọa và buộc tội, khẩu súng săn cũng sủa inh ỏi trên tay. Graves di chuyển rất nhanh so với một gã to xác như hắn. Ta đã suýt quên mất điều đó.

Hắn không phải vấn đề duy nhất của ta. Gã ngốc khốn nạn này đã bắn phá mọi thứ như tổ ong và gào thét như ong vỡ tổ. Lũ Móc Câu Lởm Chởm cũng đã bao vây chúng tôi, nhưng chúng đủ khôn ngoan để cử vài tên đứng canh cửa chính.

Đã đến lúc phải đi rồi – nhưng ta sẽ không rời khỏi đây mà không có thứ đó.

Ta dẫn Graves theo một điệu nhảy vòng quanh nhà kho, và trở về chính điểm bắt đầu trước hắn một khắc. Chắn giữa ta và phần thưởng là lũ tay sai, và có thêm nữa đang tới, nhưng không còn thời giờ để chờ đợi. Quân bài trong tay ta lóe lên ánh đỏ, và ta ném thẳng nó vào chính giữa những cánh cửa kho. Vụ nổ thổi tung bản lề của chúng và làm lũ tay sai chạy toán loạn. Ta đi vào.

Một trong số chúng hồi phục nhanh hơn ta dự tính, và hắn lao vào với một chiếc rìu. Ta né cú bổ và đá vào đầu gối hắn, lia thêm một loạt bài nữa vào cả đám để giữ chúng im lặng.

Con đường đã rộng mở, ta chộp lấy con dao găm được chạm khắc tỉ mỉ mà ta được thuê để trộm, móc nó vào thắt lưng. Sau tất cả biến cố của đêm nay, có thể ta vẫn được trả một khoản hậu hĩnh.

Cánh cửa nhập kho đã thủng những lỗ to tướng, nhưng có quá nhiều những gã Móc Câu chết tiệt đang kéo vào. Không hề có lối ra khỏi đây, nên ta phải chui vào góc tĩnh lặng duy nhất trong căn nhà kho điên rồ này.

Một quân bài nhảy múa trên tay ta khi đang chuẩn bị dịch chuyển, nhưng khi ta bắt đầu trôi dạt, Graves xuất hiện, bám theo ta như một con gấu khát mồi. Khẩu Định Mệnh rung lên bần bật trong tay hắn, và một gã Móc Câu Lởm Chởm bị sấy đạn lỗ chỗ.

Ánh mắt của Graves hướng tới quân bài đang phát sáng trong tay ta. Hắn biết điều đó có nghĩa gì, và xoay họng súng đầy khói của hắn chĩa vào ta. Ta buộc phải di chuyển, gián đoạn quá trình tập trung.

“Mày không chạy được mãi đâu,” hắn rống lên.

Lần duy nhất mà hắn không ngu ngốc. Hắn không để ta có đủ thời gian cần thiết.

Hắn khiến ta không thể tập trung vào trò chơi của mình, và cái suy nghĩ bị lũ Móc Câu này bắt được đang bắt đầu đè nặng lên tâm khảm ta. Gã trùm của chúng khét tiếng là không nhân từ.

Trong hàng tá những suy nghĩ đang lởn vởn trong đầu ta là một cảm giác canh cánh trong lòng, rằng ta đã bị gài vào tròng. Ta đột nhiên được quẳng cho một công việc dễ dàng, một khoản tiền hậu hĩnh vào lúc ta cần nó nhất – và ngạc nhiên chưa, gã cộng sự cũ của ta đã đứng sẵn ở đây chờ đợi. Một ai đó thông minh hơn gã Graves này rất nhiều đang chơi đùa ta như một thằng ngốc.

Ta phải giỏi hơn thế này chứ. Ta sẽ tự kiểm điểm bản thân vì đã hành sự tùy tiện, nhưng hiện có đầy một cảng toàn hải tặc đang chờ đợi được giải thoát cho ta khỏi mớ rắc rối này.

Ngay tại lúc này, điều duy nhất cần phải bận tâm là cuốn gói khỏi đây. Hai phát bắn trái phá từ khẩu súng của Malcolm khiến ta phải vội vã. Lưng ta đập mạnh vào cái thùng gỗ bám bụi. Một mũi tên cắm vào tấm gỗ mục sau lưng ta, chỉ cách đầu vài tấc.

“Không có đường ra đâu, đẹp mã,” Graves la lối.

Ta nhìn xung quanh và thấy lửa từ vụ nổ bắt đầu lan lên mái nhà. Hắn nói có lý đấy.

“Chúng ta đã bị bán đứng, Graves,” ta hét lên.

“Mày có vẻ hiểu rõ về trò đó nhỉ,” hắn đáp lại.

Ta sẽ thử thương lượng với hắn.

“Hợp tác cùng nhau, chúng ta có thể thoát khỏi đây.”

Chắc ta phải tuyệt vọng lắm rồi.

“Tao thà để cả hai cùng chết rồi mới tin mày lần nữa được,” hắn gầm gừ.

Không ngoài dự đoán của ta. Nói lí với hắn chỉ khiến hắn điên tiết hơn, đó chính là điều ta cần. Sự phân tâm sẽ cho ta đủ thời gian để dịch chuyển ra ngoài nhà kho.

Ta vẫn nghe thấy tiếng gào rống của Graves trong nhà kho. Ta cá rằng hắn đang sáp lại chỗ nấp của ta chỉ để thấy ta đã biến mất, cùng một quân bài rơi trên sàn, trêu tức hắn.

Ta phi một mớ bài vào những cánh cửa nhập kho sau lưng. Sự tinh tế là một câu chuyện quá khứ dài.

Ta chợt cảm thấy có lỗi trong thoáng chốc về việc để lại Graves trong căn nhà kho bốc cháy – nhưng ta biết rằng chừng đó chưa đủ để giết hắn. Hắn quá là cứng đầu. Bên cạnh đó, một vụ hỏa hoạn trên bến cảng sẽ rất nghiêm trọng đối với một thị trấn hải cảng. Việc này có thể cho ta thêm ít thời giờ.

Khi ta đang tìm cách nhanh nhất để thoát khỏi cảng giết mổ, âm thanh của vụ nổ khiến ta phải quay đầu nhìn lại,

Graves lại xuất hiện, bước qua cái lỗ hổng hắn vừa thổi tung ở một bên nhà kho. Đôi mắt hắn đầy nộ hỏa giết chóc.

Ta ngả mũ trước hắn và chạy. Hắn đuổi theo ta, nổ súng liên hồi.

Ta phải thán phục lòng quyết tâm của gã này.

Mong rằng điều đó sẽ không khiến ta bỏ mạng đêm nay.

VỎ ỐC, BÀI HỌC VỀ SỨC MẠNH, THÔNG ĐIỆP
HỒI MỘT – PHẦN BỐN

Đôi mắt cậu nhóc mở rộng hết cỡ và đầy hoảng hốt khi cậu bị triệu về hướng khoang thuyền trưởng.

Những tiếng thét đau đớn phát ra từ cánh cửa cuối hành lang đã khiến cậu nghĩ lại. Tiếng khóc vang vọng trong những căn phòng ngột ngạt của chiếc chiến hạm khổng lồ được sơn đen tuyền, điều đã được tính toán để cho mọi thuyền viên trên chiếc Dead Pool đều có thể nghe thấy.

Gã thuyền phó, với khuôn mặt đầy sẹo, đặt một cánh tay vững như bàn thạch lên vai cậu nhóc. Họ dừng lại trước cánh cửa. Cậu nhóc nhăn mặt khi một tiếng van khóc vì bị tra tấn phát ra từ bên trong.

“Bình tĩnh nào,” gã thuyền phó nói. “Thuyền trưởng sẽ muốn nghe những gì mày nói đấy.”

Nói xong, hắn đập mạnh vào cánh cửa. Cửa mở sau thoáng chốc bởi một gã thô kệch với những hình xăm trên khuôn mặt và một thanh kiếm cong, lưỡi rộng đeo sau lưng. Cậu nhóc không nghe thấy những gì hai gã này nói; ánh mắt của cậu dán chặt vào một bóng đen vững chãi đang ngồi quay lưng lại với cậu.

Lão thuyền trưởng là một người đàn ông vạm vỡ, đang ở tuổi trung niên. Cổ và đôi vai lão ta trông cứng cỏi và ngạo mạn. Cánh tay áo được kéo cao lên, và cẳng tay lão đầy mạch máu sung mãn. Chiếc áo choàng đỏ thẫm được treo trên cái móc gần đó, cùng với chiếc mũ ba vành màu đen.

“Gangplank”, cậu nhóc thì thào, giọng nói của cậu tràn ngập sự sợ hãi.

“Thuyền trưởng, tôi nghĩ rằng ông muốn nghe điều này,” gã thuyền phó nói.

Gangplank không nói gì, cũng không quay lại, vẫn tiếp tục công việc của lão. Gã thủy thủ đầy sẹo đẩy cậu nhóc về phía trước. Cậu vấp ngã trước khi tìm lại cảm giác chân của mình và lết tới gần hơn. Cậu nhóc tiến tới gần truyền trưởng của con tàu Dead Pool giống như tiến tới bờ vực vậy. Hơi thở của cậu trở nên gấp gáp hơn khi nhìn thấy tận mắt công việc của lão thuyền trưởng.

Những chậu máu nằm dưới bàn làm việc của Gangplank, cùng với một loạt dao mổ, móc câu, và những dụng cụ mổ xẻ sáng lấp lánh.

Một gã đàn ông đang nằm trên bàn làm việc của lão thuyền trưởng, được trói chặt bằng băng vải. Chỉ có phần đầu của gã là không sao. Gã nhìn xung quanh trong sự tuyệt vọng tột độ, cổ ráng ngóc lên, khuôn mặt vã mồ hôi đầm đìa.

Ánh nhìn của cậu nhóc không thể không nhìn xuống chân trái bị lóc da của gã. Cậu đột nhiên nhận ra bản thân chẳng thể nhớ nổi mục đích đến đây của mình để làm gì nữa.

Gagnplank quay đầu khỏi công việc đang làm và nhìn chằm chằm vào vị khách không mời. Đôi mắt của lão lạnh lẽo và chết chóc như của một con cá mập vậy. Lão cầm một lưỡi dao mảnh dẻ trong tay, xoay nó lơ lửng giữa các ngón tay một cách tinh xảo, như một người họa sĩ chơi đùa cây cọ vẽ vậy.

“Đây là một tuyệt phẩm từ cái chết đó, vỏ ốc à,” Gangplank nói, sự chú ý của lão lại quay về với tác phẩm của mình. “Thời này làm gì còn ai có đủ kiên nhẫn để chạm trổ xương. Mất quá nhiều thời gian. Thấy không? Mỗi nhát dao đều có ý đồ cả.”

Bằng một cách nào đó, gã đàn ông kia vẫn sống, mặc cho vết thương tả tơi dưới chân, da thịt lòi ra từ xương đùi. Vừa sửng sốt vừa kinh hãi, cậu nhóc nhìn thấy những hình vẽ phức tạp mà thuyền trưởng đã chạm khắc trên phần xương đó; những xúc tu và con sóng cuộn tròn. Đây là một bức vẽ rất tinh tế, thậm chí còn tuyệt đẹp. Điều này khiến tổng thể càng trở nên tệ hại.

Tác phẩm điêu khắc sống của Gangplank khóc nức nở.

“Làm ơn…” hắn rên rỉ.

Gangplank bỏ ngoài tai lời van xin thống thiết và bỏ con dao xuống. Lão đổ một cốc rượu whisky rẻ tiền lên tác phẩm của mình, gột rửa máu để nhìn rõ nó hơn. Tiếng thét của gã đàn ông kia như xé nát chính cổ họng của hắn, cho đến khi hắn gục xuống bất tỉnh, đôi mắt nhắm chìm. Gangplank lầm bầm trong sự ghê tởm.

“Nhớ lấy điều này, nhóc,” Gangplank nói. “Đôi khi, ngay cả những kẻ trung thành cũng quên mất vị trí của chúng. Đôi khi, việc nhắc nhở chúng là cần thiết. Cách người khác nhìn mày chính là mọi thứ về sức mạnh thực sự. Tỏ ra yếu đuối, dù chỉ trong khoảnh khắc, và thế là mày xong đời.”

Cậu nhóc gật đầu, khuôn mặt cắt không còn một giọt máu.

“Dựng nó dậy,” Gangplank nói, hất hàm về phía gã thuyền viên đang bất tỉnh. “Nó còn phải hát cho cả tàu nghe chứ.”

Trong khi bác sĩ của tàu đang bước tới, Gangplank lại hướng ánh nhìn về phía cậu nhóc.

“Nào,” lão nói. “Ngươi muốn nói gì với ta thế?”

“Một… một gã,” cậu nhóc ấp úng nói. “Một gã trên bến cảng Thị Trấn Ổ Chuột.”

“Nói tiếp đi,” Gangplank nói.

“Hắn cố gắng không để lũ Móc Câu phát hiện ra. Nhưng tôi thấy hắn.”

“Mm-hmm,” Gangplank lẩm bẩm và bắt đầu mất kiên nhẫn. Lão quay trở lại công việc của mình.

“Cứ nói tiếp đi, nhóc” gã thuyền phó giục.

“Hắn chơi đùa với vài bộ bài khá lạ mắt. Chúng phát sáng.”

Gangplank đứng bật dậy, như một pho tượng thần khổng lồ trỗi dậy từ đáy đại dương.

“Nói địa điểm cho ta,” lão nói.

Bao da đựng súng của lão kêu cọt kẹt khi lão túm chặt nó trong tay.

“Cạnh nhà kho, cái nhà kho lớn gần dãy trại ấy.”

Khuôn mặt của Gangplank chuyển sang đỏ ửng giận dữ khi lão kéo chiếc áo choàng và với chiếc mũ trên móc. Đôi mắt lão lấp lánh sắc đỏ dưới ánh đèn. Cậu nhóc không phải người duy nhất bất giác lùi lại một bước đầy thận trọng.

“Cho chú nhóc này một đồng ngân xà và một bữa thịnh soạn,” thuyền trưởng ra lệnh cho gã thuyền phó trong khi bản thân lão thì lao ra cửa cabin đầy quả đoán.

“Và tập hợp toàn bộ mọi người lên bến cảng. Chúng ta có việc phải làm.”

HỖN CHIẾN TRÊN BẾN CẢNG, CÂY CẦU ĐỒ TỂ, CHƯỚNG NGẠI VẬT
HỒI HAI – PHẦN MỘT

Ta đang ho ra khói. Khói bụi từ hỏa hoạn ở nhà kho đang xé nát phổi của ta ra từng mảnh nhỏ, nhưng ta không còn thời gian để thở nữa. T.F đang bỏ trốn, và ta sẽ tự nguyền rủa bản thân nếu như ta còn phải dành thêm không biết bao nhiêu lâu nữa để đuổi theo hắn khắp mọi miền Runeterra. Mọi thứ sẽ kết thúc trong đêm nay.

Gã khốn này biết ta đang đuổi theo. Hắn đánh gục vài kẻ chắn đường và chạy trốn dọc theo bến cảng. Hắn đang cố kích hoạt quân bài tẩu thoát, nhưng ta vẫn luôn phả hơi nóng vào gáy hắn, để hắn không thể tập trung nổi.

Càng ngày càng có nhiều gã Móc Câu bu xung quanh như ruồi nhặng. Trước khi chúng có thể chặn đường, T.F. tung ra vài lá bài nổ để thổi tung lũ côn đồ. Một vài gã Móc Câu thì quá đơn giản để đối phó. Nhưng ta thì không. Ta đến để giải quyết mọi ân oán, và T.F biết điều đó. Hắn chạy hết tốc lực xuống bến cảng.

Cuộc ẩu đả của hắn với những gã canh cảng đã cho ta đủ thời gian để bắt kịp. Hắn trông thấy ta và chui vào sau một đống xương cá voi khổng lồ. Một phát súng thổi tung chỗ nấp của hắn, khiến đống xương vương vãi khắp nơi.

Hắn trả lời bằng một nỗ lực muốn lấy đầu ta, nhưng ta bắn rụng quân bài của hắn giữa không trung. Nó phát nổ như một trái bom, hất văng cả hai ngã ngửa ra đất. Hắn đứng dậy trước và bỏ đi. Ta giơ Định Mệnh với theo bắn nhanh nhất có thể.

Vài gã Móc Câu tiếp cận với xiềng xích và gươm. Ta quay ngoắt sang và thổi tung chúng. Trước khi ta nghe được tiếng chúng gục xuống, ta đã quay gót đuổi theo tiếp. Ta nhắm vào T.F, nhưng ta cũng trúng một viên đạn súng lục. Lại xuất hiện thêm lũ Móc Câu, và được vũ trang kĩ càng hơn.

Ta nấp sau một mảnh thân tàu đánh cá cũ kĩ để bắn trả. Khẩu súng vừa kêu lạch cạch. Cần phải nạp đạn. Ta nhét mạnh mớ đạn ghém mới toanh vào, nhổ toẹt cơn giận dữ xuống sàn, và lao trở lại đống hỗn loạn.

Tất cả vây quanh ta, các phát đạn và mũi tên bắn xuyên qua đống thùng gỗ. Một trong số chúng xé nát một mảnh tai của ta. Ta chỉ nghiến răng và cày bừa mọi thứ cản đường, giữ chắc cò súng. Định Mệnh có thể nuốt chửng mọi thứ. Một gã trong băng Móc Câu Lởm Chởm rớt xương hàm. Một gã khác thì bị găm thẳng vào trong vịnh. Gã thứ ba thì bị thổi tung thành một tấm phông đỏ quạch.

Ta chạy quanh và tìm thấy T.F đang bỏ trốn vào sâu hơn cảng giết mổ. Ta chạy qua một cửa hàng thủy sản treo đầy xác cá chình. Một con còn mới được lọc da, nội tạng vẫn tràn ra nền đất cảng. Gã bán hàng quay về phía ta, xoay xoay một cái móc thịt.

BÙM.

Ta bắn thẳng vào chân hắn.

BÙM.

Thêm một phát nữa thẳng vào đầu.

Ta đẩy một đống thịt cá lưỡi dao bốc mùi sang một bên và tiếp tục di chuyển. Máu ngập đến mắt cá chân, của cả lũ thủy sản và đám Móc Câu ta bắn hạ. Không hợp cảnh chút nào với một gã công tử như T.F. Ngay cả khi ta bám đuôi hắn liên tục, hắn vẫn thi thoảng chạy chậm lại để tránh bẩn quần áo.

Trước khi ta có thể áp sát, T.F khởi động để chuẩn bị chạy nước rút. Ta có thể cảm thấy bản thân đang hụt hơi.

“Quay lại đây và đối mặt với tao!” ta kêu to.

Loại đàn ông gì mà không dám đối mặt với vấn đề của mình chứ?

Một tiếng ồn phía tay phải khiến ta phải chú ý đến một ban công có thêm hai gã Móc Câu. Ta bắn chúng, và mọi thứ nổ tung xuống bến cảng.

Khói thuốc súng và mảnh vụn quá dày đặc, chúng khiến ta chẳng thể nhìn thấy gì. Ta chạy về hướng âm thanh đôi ủng nữ tính của hắn chạy lịch bịch trên sàn gỗ. Hắn đang muốn chạy đến Cây Cầu Đồ Tể ở cuối cảng giết mổ – cách duy nhất để thoát khỏi hòn đảo. Quá tệ nếu ta lại lần nữa để hắn chuồn mất.

Khi ta chạy đến đầu cầu, T.F. chợt đứng lại, dù mới chạy được một nửa. Khi đó, ta nghĩ rằng hắn đã bỏ cuộc. Và rồi ta đã nhìn thấy lý do hắn dừng lại: Ở đầu cầu bên kia, là cả một quân đoàn những gã bất hảo cầm gươm. Nhưng ta không hề nao núng.

T.F. có quay đầu lại cũng chỉ chạm mặt ta. Hắn đã mắc kẹt. Hắn nhìn qua thành cầu, nhìn xuống dòng nước xiết phía dưới. Hắn đang nghĩ đến chuyện nhảy xuống – nhưng ta biết hắn sẽ không làm vậy.

Đã hết lựa chọn rồi. Hắn bắt đầu đi về phía ta.

“Nhìn kìa, Malcolm. Không có ai trong hai ta cần phải bỏ mạng tại đây. Ngay khi cả hai thoát khỏi cảnh này-“

“Mày sẽ lại chạy trốn thôi. Mày luôn làm như vậy mà.”

Hắn không trả lời. Đột nhiên, hắn tỏ ra không hề lo lắng vì ta. Ta quay đầu lại nhìn xem hắn đang chú ý đến điều gì.

Đằng sau ta, ta thấy lũ cặn bã ai ai cũng cầm theo một thanh gươm hoặc một khẩu súng lục. Gangplank có lẽ đã triệu tập toàn bộ đàn em của lão. Tiếp tục chạy thì chỉ có một đường vào địa ngục.

Nhưng sống sót không phải là điều quan trọng nhất với ta ngày hôm nay.

TIẾP CẬN, TRÊN BỜ VỰC THẲM, BƯỚC CHÂN MẠO HIỂM
HỒI HAI – PHẦN HAI

Lũ Móc Câu, chúng không hề vội vàng. Không cần thiết nữa. Chúng biết rằng cả hai con mồi đã hết đường. Đằng sau hắn, có vẻ như toàn bộ lũ du côn cặn bã ở Bilgewater đều có mặt trong buổi tiệc này. Không còn đường quay lại nữa.

Ở đầu kia của cây cầu, chặn đường thoát của ta đến mê cung ổ chuột của Bilgewater, là toàn bộ băng cướp biển Mũ Đỏ. Chúng cai trị bờ đông của thị trấn giáp biển này. Gangplank nắm đầu chúng, cũng như lão nắm đầu lũ Móc Câu và gần như toàn bộ cái thị trấn chết tiệt này.

Đằng sau ta, là Graves, đang ầm ập lao tới mỗi lúc một gần. Gã cứng đầu khỉ gió này chẳng thèm quan tâm đến cái mớ lùm xùm mà cả hai đang vướng phải này. Rất ngạc nhiên, thực sự. Và rồi chúng ta lại ở trong cảnh này, giống như nhiều năm về trước. Kẹt sâu trong đống bùn lầy, và hắn chẳng thèm nghe ai.

Ước gì ta có thể kể cho hắn điều gì thực sự xảy ra trong quá khứ, nhưng điều đó chẳng có ích gì. Hắn sẽ không chịu tin ta, dù chỉ một giây. Khi hắn đã găm thứ gì đó thật sâu trong hộp sọ dày cộp của hắn, cần một lúc để khiến nó lung lay. Và ta chẳng có nổi một lúc.

Ta bám vào một bên thành cầu. Qua thanh chắn, ta nhìn thấy dây tời và ròng rọc treo phía dưới – và rồi đại dương thì còn cách đó rất xa. Đầu ta quay cuồng, và ruột ta như rớt xuống chân. Khi ta đang do dự ở chính giữa cây cầu, ta mới có cái nhìn toàn cảnh xem bản thân đang ở trong hoàn cảnh tệ đến nhường nào.

Lờ mờ ở khoảng cách khá xa là con tàu đen tuyền trứ danh của Gangplank. Từ trong đó, nguyên một hạm đội thuyền con đang tiếp cận từ phía dưới, với những tay chèo hết lực. Có vẻ như toàn bộ đàn em của lão đều có mặt ở đây.

Ta không thể chạy thoát khỏi lũ Móc Câu, ta không thể chạy thoát khỏi lũ Mũ Đỏ, và ta cũng chẳng thể chạy thoát khỏi sự đầu heo của gã Graves.

Chỉ còn duy nhất một con đường.

Ta bước lên trên thanh chắn thành cầu. Ta đang ở độ cao hơn cả những gì mình nghĩ. Ngọn gió thổi vào tấm áo khoác của ta, khiến nó căng lên như những cánh buồm. Ta không nên quay trở lại Bilgewater.

“Trèo xuống đi,” Graves nói. Dường như có chút gì đó tuyệt vọng trong giọng nói của hắn? Hắn sẽ sụp đổ nếu như ta chết trước khi hắn có được những lời thú tội hằng mong muốn.

Ta hít một hơi thật sâu. Thực sự là từ đây nhìn xuống dưới quá xa.

“Tobias,” Malcolm nói. “Lùi lại đi.”

Ta khựng lại. Đã rất lâu rồi ta không nghe thấy cái tên đó.

Rồi ta nhảy xuống cầu.

MÀN TRÌNH DIỄN, KẺ QUAN SÁT, LẪN TRONG MÀN ĐÊM
HỒI HAI – PHẦN BA

Mãng Xà Ngang Ngược là một trong số ít những quán rượu ở Bilgewater mà không có mùn cưa trên sàn nhà. Hiếm khi đồ uống bị bỏ phí, mà chỉ để nhâm nhi, nhưng trong đêm nay, có tin rằng những khách quen của quán đều trên đường đến Thợ Lặn Lừa Phỉnh.

Ngay cả những quý ông có phẩm giá, và thậm chí còn hơn cả thế, tất cả đều chửi tục với những bài hát kì lạ về các hành động tồi tệ nhất.

Và ngay đấy ở chính giữa đám đông, đó là người chủ trì của cuộc vui đêm nay.

Cô xoay người, chúc tụng sức khỏe của chủ bến cảng và toàn bộ thuộc hạ. Mái tóc đỏ rực rỡ của cô ta quất xung quanh, thu hút toàn bộ ánh nhìn của lũ đàn ông trong phòng, như thể chúng chưa từng nhìn thấy bất cứ thứ gì khác ngoài cô ta.

Không có một chiếc li nào được phép cạn rượu trong đêm nay – nữ thần tóc-đỏ-rực đảm bảo điều đó. Nhưng không phải những giác quan ngu ngốc của lũ đàn ông trong phòng ngăn cản chúng lại gần. Đó là lời hứa cho nụ cười rực rỡ tiếp theo của cô ta.

Trong khi cuộc vui vẫn đang tưng bừng trong quán rượu, cửa trước bật mở, và bước vào là một gã đàn ông ăn mặc đơn giản. Vô cùng kín đáo ở một cấp độ chỉ đến từ nhiều năm luyện tập, hắn bước vào quầy bar và gọi một li.

Trong hàng đống món đồ được sắp xếp vụng về, cô gái trẻ cầm lấy một vại bia óng ánh màu hổ phách.

“Các anh em thân mến, tôi e rằng tôi phải rời khỏi đây,” cô ta nói với một ngữ điệu khoa trương.

Những gã lính canh ở cảng đáp lại với những tiếng reo hò phản đối.

“Nào, nào. Chúng ta đã có những phút giây vui vẻ,” cô qưở nhẹ họ một cách hòa nhã. “Nhưng tôi còn có một đêm bận rộn trước mắt, và các vị cũng đã quá muộn giờ quy định rồi.”

Cô ta nhảy ngay lên một chiếc bàn, trước khi nhìn xuống tất cả bọn họ với một niềm hân hoan vui sướng.

“Mong rằng Xà Mẫu sẽ ban phước lành cho chúng ta, rửa sạch mọi tội lỗi!”

Cô mỉm cười một nụ cười quyến rũ nhất có thể, nhấc vại bia lớn lên môi, và rồi uống trọn vại bia chỉ trong một hơi.

“Đặc biệt là những tội lỗi tệ hại nhất,” cô ta vừa nói vừa dộng mạnh vại bia lên bàn.

Cô ta lau bia trên miệng trong khi bên dưới reo hò đồng tình một cách cuồng nhiệt, và gửi một nụ hôn gió đến tất cả.

Như lũ hầu tước tiễn bước nữ hoàng, cả quán rượu mở đường cho cô.

Cánh cửa được rộng mở cho cô bởi gã chủ bến cảng một cách lịch thiệp. Hắn mong rằng sẽ thu hút được một ánh nhìn đồng cảm, nhưng cô ta đã mất hút trên con phố trước khi hắn có thể ngẩng đầu nhìn thấy sau màn cúi chào lịch sự.

Ngoài kia, mặt trăng đang chìm phía sau Lầu Tự Do, và bóng đêm dường như đang vươn ra chạm tới người phụ nữ. Mỗi bước đi của cô ta sau khi rời quán rượu đều ngày càng quyết đoán và có mục đích hơn. Khuôn mặt cô không còn lớp mặt nạ vô tư khi nãy, và bản ngã của cô ta lộ diện.

Nụ cười, tâm thế vui vẻ và duyên dáng của cô, đều biến mất. Cô nhìn chằm chằm một cách dứt khoát, không để mắt đến những con đường và ngõ hẻm xung quanh, nhưng nhìn xa hơn vào những gì màn đêm tối phía trước có thể dẫn đến.

Đằng sau cô ta, gã đàn ông ăn mặc giản dị từ quán rượu đang bám theo. Những bước chân của hắn không phát ra tiếng động, nhưng vẫn nhanh nhẹn một cách vô định.

Tính toán theo nhịp tim, gã khiến bước đi của mình hòa nhịp một cách hoàn hảo với cô, giữ mình ngoài phạm vi của cô.

“Mọi thứ đi đúng hướng chứ, Rafen?” cô ta hỏi.

Sau ngần ấy năm, gã vẫn sửng sốt về việc chẳng thể làm cô ta bất ngờ.

“Vâng, Thuyền trưởng,” gã nói.

“Ngươi không bị phát hiện chứ?”

“Không,” gã nổi cáu, cố kiềm chế sự không hài lòng trước câu hỏi. “Vùng vịnh đã an toàn khỏi tai mắt của gã chủ bến cảng, và con tàu hoàn toàn trống rỗng.”

“Và cậu nhóc?”

“Cậu ta đã diễn tròn vai.”

“Tốt lắm. Hẹn gặp lại ở Syren.”

Sau lời nói đó, Rafen tách ra và biến mất vào bóng tối.

Cô ta tiếp tục tiến bước khi màn đêm bao phủ hoàn toàn lấy cô. Mọi bánh răng đều đã bắt đầu chuyển động. Phần còn lại là để những diễn viên của cô hoàn thành vở diễn.

CÚ NHẢY, ĐÔI GIÀY TUYỆT PHẨM, QUẢ CAM
HỒI HAI – PHẦN BỐN

Ta nghe thấy tiếng gào của Graves khi ta nhảy khỏi cây cầu. Tất cả những gì ta có thể thấy là sợi dây phía dưới. Không cần phải nghĩ về cú rơi thẳng xuống đáy biển tăm tối nữa.

Mọi thứ như mờ đi dưới làn gió ào ạt.

Ta suýt chút nữa đã thét lên sung sướng khi túm được sợi dây, nhưng rồi nó thiêu cháy lòng bàn tay ta như một thanh sắt nung. Cú rơi của ta đã dừng lại bất thình lình, và ta lần theo sợi dây xuống tới phần chùng nhất của nó.

Ta treo mình ở đó một chốc, và chửi thề.

Ta nghe nói rằng rơi xuống nước từ độ cao này thường sẽ không đến nỗi vong mạng, nhưng ta thà thử vận may ở bãi đá bến cảng ở phía dưới ít nhất khoảng 15 mét. Ta có thể sẽ tử nạn, nhưng dù sao đó cũng là một cảnh tượng dễ coi hơn là chết đuối.

Giữa ta và nền đá, có một cặp cáp treo trọng tải lớn chạy từ đây về đất liền, một chiếc chiều đi, một chiếc chiều về. Những cỗ máy ồn ào dùng dầu thô để tiếp nhiên liệu cho chúng. Chúng được dùng để chuyên chở những tảng thịt tinh lọc của lũ sinh vật biển đến khu chợ chính ở Bilgewater.

Đôi cáp treo kêu kẽo cọt như một chiếc xô rỉ sét nặng nề, to như một căn nhà, đang chậm rãi trên đường hướng tới ta.

Ta nở một nụ cười nửa miệng chừng một giây. Đó là, cho đến khi ta nhìn thấy thứ gì trong cáp treo. Ta sẽ chuẩn bị đặt chân mình lên một cái thùng sôi sục toàn nội tạng cá thối rữa.

Phải mất nhiều tháng ta mới dành dụm đủ tiền cho đôi giày này. Dẻo dai như tơ nhện và chắc chắn như thép cường lực, đôi giày này được làm thủ công từ bộ da của một con rồng biển sâu. Có ít hơn bốn đôi như vậy trên toàn thế giới.

Khỉ thật.

Ta căn thời gian nhảy chuẩn xác và hạ cánh vào giữa thùng. Nước thải lạnh buốt thấm qua từng mũi khâu tay cầu kì trên đôi giày vô giá của ta. Ít nhất thì mũ ta vẫn còn sạch nguyên.

Đột nhiên, ta lại nghe thấy tiếng súng rền vang.

Đường dây cáp phát nổ.

Cái thùng rung lên khi nó trượt không phanh khỏi đường dây cáp. Ngọn gió thổi văng ta ra khi cả thùng đâm sầm vào nền đá. Ta cảm thấy nền đất của cả hải cảng rung lắc dữ dội trước khi mọi thứ lộn nhào.

Cả thế giới như đổ sập lên đầu ta, cùng với cả tấn ruột cá.

Khó khăn lắm mới đứng dậy được, ta đảo mắt tìm đường khác thoát thân. Đám thuyền con của Gangplank đang tiến lại gần. Chúng chuẩn bị cập bờ.

Liếc mắt sang, ta kéo lê bản thân về phía con thuyền nhỏ neo đậu gần cảng. Ta chưa đi được nửa đường thì có một viên đạn bay xé gió xuyên qua thân tàu, chọc thủng nó.

Con thuyền chìm dần, và ta khuỵu gối xuống, cảm thấy sức cùng lực kiệt. Ta cố hít thở qua mùi hôi thối bốc ra từ chính người mình. Malcolm đã đứng chặn đường ta. Bằng một cách nào đó, hắn cũng đã tìm được đường xuống đây. Tất nhiên là hắn tìm được.

“Trông mày kìa, không được bảnh bao cho lắm nhỉ?” Graves cười cợt, nhìn ta từ đầu đến chân.

“Đến bao giờ thì mày mới chịu hiểu ra vậy?” Ta nói, đứng thẳng người. “Lần nào tao cũng cố gắng để giúp mày. Tao-”

Hắn bắn thẳng vào mặt đất trước mặt ta. Ta khá chắc rằng đã có một mảnh vỡ đập vào ống chân mình. “Nếu như mày chịu lắng ng-“

“Ồ, tao nghe đủ rồi,” hắn cắt ngang, gằn giọng từng chữ. “Phi vụ lớn nhất trong đời, và trước khi tao biết được điều gì, thì mày đã biến mất.”

“Trước khi mày biết được điều gì? Tao đã nói cho mày- -”

Thêm một phát đạn nổ nữa, thêm một cơn mưa đá vụn, nhưng ta đang chỉ bận tâm đến chuyện quá khứ.

“Tao đã cố gắng để cả hai thoát thân. Cả hai ta đều nhận ra rằng phi vụ đó đổ bể rồi,” ta nói. “Nhưng mày không chịu lùi bước. Mày không bao giờ chịu làm vậy.” Lá bài đã nằm trong tay ta trước khi ta nhận thức được điều đó.

“Tao đã nói với mày rồi, tất cả những gì mày cần làm là hỗ trợ cho tao. Cả hai ta đã có thể thoát được gọn ghẽ – và ôm khoản tiền kếch xù. Nhưng mày lại chạy,” hắn nói, bước tới trước. Gã cộng sự ngày nào của ta dường như đã không còn sau nhiều năm nung nấu hận thù.

Ta không muốn cố gắng nói gì đó nữa. Giờ đây, ta có thể nhìn thấy điều đó trong mắt hắn. Có thứ gì đó đã vỡ vụn sâu thẳm trong đó.

Sau lưng hắn, một tia sáng lóe lên đập vào mặt ta – đó là một kíp đánh lửa. Gã lâu la đầu tiên của Gangplank đã bắt kịp.

Không cần suy nghĩ, ta phi lá bài. Nó liệng sượt qua Graves.

Khẩu súng của hắn cũng khai hỏa.

Lá bài của ta đã hạ gục gã tay sai của Gangplank. Khẩu súng của gã đã kề vào lưng Malcolm.

Đằng sau ta, một tên tay sai khác cũng đổ gục xuống đất, trên tay gã cầm một con dao bén ngọt. Nếu Graves không bắn gã, tên tay sai này có thể đã lấy mạng ta.

Không hẹn mà gặp, chúng ta cùng nhìn nhau. Thói quen xưa.

Tay chân của Gangplank đã ập đến xung quanh, càng lúc càng đông, chúng hú hét và chế giễu. Quá đông để đánh trả.

Điều này không khiến Graves chùn bước. Hắn nâng súng lên, nhưng nó đã hết đạn.

Ta không rút lá bài nào ra cả. Chỉ vô ích thôi.

Malcolm gào lên và lao vào chúng. Đó là cách hắn vẫn làm. Hắn đập dập mũi một gã khốn bằng báng súng, trước khi đám đông lao vào tẩn hội đồng hắn.

Những cánh tay túm lấy ta, giữ chặt đôi tay. Malcolm bị kéo lê đi, máu chảy ròng ròng trên mặt.

Đáng ngại thay, tiếng hò hét của đám đông xung quanh ta đột nhiên im bặt.

Bức tường lâu la tách ra, và một hình bóng quen thuộc mặc áo choàng đỏ tiến về phía ta.

Gangplank.

Nhìn từ khoảng cách gần, lão có khổ người to lớn hơn hình dung. Và già hơn. Những nếp nhăn trên mặt lão rất sâu và mờ đục.

Lão đang cầm quả cam trên một tay, gọt vỏ nó bằng một con dao lưỡi ngắn dùng để chạm trổ. Lão làm việc này chậm rãi, khiến mỗi nhát dao đều tạo ra áp lực đáng kể.

“Nói cho tao biết, các chàng trai,” lão nói. Giọng nói gầm gừ của lão sâu và vang vọng. “Chúng mày có thích vỏ ốc không?”

MÁU ĐỔ, SỰ THẬT, HẬU DUỆ TỬ THẦN
HỒI BA – PHẦN MỘT

Lại một quả đấm nữa dộng thẳng vào mặt ta. Ta đổ rầm xuống, đập mặt vào boong tàu của Gangplank. Cặp còng tay bằng gang cứa vào cổ tay ta.

Ta vừa đứng thẳng dậy thì bị buộc phải quỳ xuống bên cạnh T.F. Nếu cái lũ ốm yếu này bắt ta phải đứng thì đôi chân của ta cũng không giữ nổi cho bản thân đứng vững nữa.

Gã khốn to lớn, cơ bắp cuồn cuộn này đánh đập ta lúc nặng lúc nhẹ.

“Cố lên nào, con trai,” ta sỉ vả. “Mày làm sai hết cả rồi.”

Ta không chuẩn bị tinh thần cho cú đấm tiếp theo. Nỗi đau bùng cháy như một vụ nổ, và ta lại gục xuống sàn boong tàu. Lại một lần nữa, ta được dựng dậy và bắt quỳ gối. Ta nhổ toẹt máu và răng ra. Và cười gằn.

“Bà má già của tao còn đấm khỏe hơn mày đó, nhóc con. Trong khi bà ấy đã xanh cỏ được năm năm rồi.”

Hắn bước lại gần, định đấm gục ta lần nữa, nhưng chỉ một từ ngắn gọn của Gangplank đã khiến hắn dừng lại giữa chừng.

“Đủ rồi,” lão thuyền trưởng nói.

Nghiêng mình một chút, ta cố tập trung vào hình ảnh mờ ảo của Gangplank. Đôi mắt ta càng lúc càng nhìn rõ hơn, thật chậm rãi. Trên thắt lưng, ta thấy lão đang đeo con dao găm chết tiệt mà T.F trộm được.

“Twisted Fate, hả? Tao có nghe tiếng tăm của mày, và tao không bao giờ đánh giá thấp một thằng trộm giỏi cả,” Gangplank nói. Lão bước lại gần và trừng mắt nhìn T.F. “Nhưng một thằng trộm giỏi phải biết rằng đừng nghĩ đến việc trộm đồ của tao.” Lão ngồi xổm xuống và nhìn thẳng vào mắt ta.

“Và cả mày nữa… Nếu mày thông minh hơn một xíu, mày đã biết phải dùng khẩu súng đó để phục vụ cho tao. Nhưng giờ thì dẹp chuyện đó đi.”

Gangplank đứng dậy và quay lưng lại.

“Tao không phải là một lão già vô lí,” lão nói tiếp. “Ta không muốn lũ chúng mày phải quỳ gối. Tất cả những gì tao đòi hỏi là một chút tôn trọng – thứ mà chúng mày đã nhổ toẹt lên. Và làm vậy thì không trừng phạt không được.”

Lũ tay chân của lão ùa vào, như lũ chó đói chỉ đợi hiệu lệnh là xé xác cả hai ta. Dù thế ta cũng chẳng bối rối. Ta sẽ không cho chúng thỏa mãn đâu.

“Cho ta một ân huệ được không,” ta nói, hướng đầu về phía T.F. “Giết nó trước.”

Gangplank bật cười với câu nói đó.

Lão gật đầu ra hiệu cho một gã tay sai, gã này bắt đầu đánh vang chuông trên tàu. Như một lời hồi đáp, hàng tá những quả chuông khác dọc thành phố cảng cũng vang lên. Lũ bợm nhậu, thủy thủ, dân bán hàng bắt đầu ùa ra ngập tràn những con phố, khiến khung cảnh náo loạn. Lão già khốn khiếp này muốn có khán giả.

“Toàn thể Bilgewater đang dõi theo đó, các chàng trai” Gangplank nói. “Đã đến lúc cho chúng xem một buổi diễn rồi. Mang Hậu Duệ Tử Thần ra đây!”

Tiếng hò reo vang vọng, và boong tàu rung lên với tiếng ồn ào của rất nhiều bước chân. Một khẩu đại pháo cũ được đưa ra. Nó có thể đã han rỉ và mọc rêu xanh theo thời gian, nhưng vẫn là một kiệt tác.

Ta liếc mắt sang T.F. Đầu hắn gục xuống, và hắn chẳng nói chẳng rằng. Chúng đã lấy đi toàn bộ số bài hắn mang theo… ngay khi tìm thấy. Chúng thậm chí còn không để lại cho hắn cái mũ tài tử ngu ngốc – có lẽ một gã khốn nào trong đám đông đang đội nó cũng nên.

Suốt những năm tháng quen biết T.F., hắn luôn thủ sẵn một đường rút lui. Khi không còn đường lui, tại đây và ngay lúc này, hắn trông thật thảm hại.

Tốt lắm.

“Mày sắp phải nhận quả báo rồi, đồ con hoang,” ta gầm gừ với hắn.

Hắn nhìn ta chằm chằm. Trong hắn dường như vẫn còn ngọn lửa.

“Tao cũng chẳng vui vẻ gì khi mọi chuyện trở nên-”

“Mày bỏ mặc tao rục xương trong tù!” Ta ngắt lời.

“Tao và cả nhóm đã cố gắng giúp mày vượt ngục. Và họ đều đã tử nạn vì điều đó!” hắn phản pháo lại ta. “Chúng tao mất cả Kolt, Wallach, và Brick – toàn bộ họ – chỉ để cố gắng cứu cái mạng ngu ngốc của mày.”

“Dù sao thì mày vẫn thoát an toàn,” ta đáp lời. “Mày biết tại sao không? Bởi vì mày là đồ hèn nhát. Và mày nói gì cũng chẳng thay đổi được sự thật đó đâu.”

Những câu chữ của ta như một quả đấm thẳng vào bụng hắn. Hắn không tranh luận nữa. Tia sáng phản kháng le lói trong hắn đã lụi tàn, và bờ vai của hắn buông xuôi. Hắn xong đời rồi.

Ta không nghĩ rằng T.F đóng kịch, hắn không diễn giỏi đến vậy. Cơn giận của ta dần tiêu tan.

Ta chợt cảm thấy mệt mỏi. Mệt mỏi và già cỗi.

“Ai rồi cũng phải vào địa ngục, và có lẽ cả hai ta đều có lỗi,” hắn nói. “Tao không hề nói dối. Cả đám đều cố để giúp mày vượt ngục. Mà kệ đi. Dù sao thì mày cũng chỉ tin những gì mày muốn tin thôi.”

Sau một khoảnh khắc, ta dần thấm thía câu nói đó. Sau một khoảng khắc lâu hơn, ta nhận ra rằng bản ngã tin hắn nói đúng.

Quỷ tha ma bắt, hắn nói đúng.

Ta làm mọi việc đều tùy tiện. Luôn luôn như vậy. Nhưng bất cứ khi nào ta đi quá tận, hắn luôn chống lưng cho ta. Hắn luôn luôn là người chỉ đường thối lui.

Nhưng ta đã không nghe lời hắn vào ngày đó, và kể từ đó. Để rồi giờ đây, ta đã tự tay giết chết cả hai.

Đột nhiên, T.F. và ta bị điệu đi và kéo lê về phía khẩu đại bác. Gangplank vỗ vào miệng nó, như vỗ về một con chó săn đắt giá.

“Hậu Duệ Tử Thần đã làm rất tốt phần việc của nó,” lão nói. “Ta đã chờ đợi cái ngày được cho nó một lời tống tiễn thỏa đáng.”

Một sợi xích nặng nề được kéo tới, và tốp thủy thủ bắt đầu vòng nó quanh khẩu đại bác. Ta đã bắt đầu mường tượng được mọi thứ sắp diễn ra.

T.F và ta bị trói quay lưng lại với nhau, và sợi xích quấn vòng quanh chân bọn ta. Một ổ khóa cũng được sử dụng, để giữ chắc chắn bọn ta với sợi xích.

Một cánh cửa bên thành tàu đã mở ra, và khẩu đại bác được lăn tới vị trí chỗ trống. Lũ hiếu kì đứng chật ních các cầu cảng và bến tàu ở Bilgewater, chờ đợi buổi biểu diễn.

Gangplank đặt gót giày lên khẩu đại bác.

“Này, tao không thể làm gì để thoát khỏi tình cảnh này,” T.F nói đằng sau ta. “Tao luôn biết trước sẽ có ngày mày khiến tao vong mạng.”

Một tiếng cười vuột ra khỏi khóe miệng ta. Đã rất lâu rồi ta mới cười.

Cả hai được kéo về phía cạnh tàu, giống như gia súc đang chờ giết mổ.

Ta nghĩ rằng đây là lúc đặt dấu chấm hết cho câu chuyện của bản thân. Ta đã sống không thẹn với lòng mình. Nhưng chẳng có ai là mãi may mắn.

Chỉ đến lúc này ta mới biết mình nên làm gì.

Duỗi người chống lại xiềng xích một cách thận trọng, ta đã chạm vào túi sau của mình. Nó vẫn ở đây; lá bài T.F thả lại trong nhà kho. Ta đã định dùng nó để cứa cổ gã khốn này.

Bọn tay sai đã kiểm tra đồ đạc của T.F để tịch thu hết bài – nhưng không kiểm tra ta.

Ta huých vào hắn. Bị trói quay lưng vào nhau, rất dễ dàng để đưa lá bài vào tay T.F mà không bị ai thấy. Ta có thể cảm thấy hắn ngần ngại khi nhận lấy lá bài.

“Hai ngươi gộp thành một khoản chẳng thấm vào đâu, nhưng cũng tạm được,” Gangplank nói. “Gửi cho ta lời chào đến Quý Bà Râu Rậm.”

Vẫy chào đám đông, Gangplank đá khẩu đại bác về mạn tàu. Nó rơi xuống dòng nước xiết tung tóe, và chìm rất nhanh. Cuộn xích khổng lồ trói cả hai trên boong tàu cũng dần được kéo theo nó.

Giờ đây, vào phút cuối, ta thật tâm tin T.F. Ta biết rằng hắn đã tìm đủ mọi cách để cứu ta ra, cũng như mọi lần khác khi chạy trốn cùng nhau. Lần này, lần duy nhất, ta là người có lối thoát. Ít nhất ta cũng có thể đưa cho hắn thứ này.

“Ra khỏi đây.”

Hắn bắt đầu chuyển động, và xoay lá bài quanh các ngón tay. Khi ma lực bắt đầu xuất hiện, ta cảm thấy một sức ép không thoải mái ở sau đầu. Ta luôn luôn ghét việc ở gần hắn khi hắn làm trò này.

Và rồi, hắn biến mất.

Sợi xích trói T.F rơi đánh rầm xuống boong tàu, và đám đông bắt đầu reo hò. Sợi xích trói ta vẫn bị khóa chặt. Ta chẳng thể thoát khỏi đây, nhưng chỉ cần nhìn thấy vẻ mặt Gangplank bây giờ cũng đáng lắm rồi.

Sợi xích nối với khẩu đại bác kéo ta khỏi mặt đất. Ta đập mạnh vào boong tàu, và chỉ biết lẩm bẩm trong đau đớn. Ta bị kéo ra khỏi mạn tàu.

Dòng nước lạnh đón nhận ta, cướp lấy từng hơi thở của ta.

Và rồi ta chìm xuống, nhanh dần, thẳng xuống đáy biển.

LAO MÌNH XUỐNG BIỂN, VẬT LỘN VỚI BÓNG TỐI, BÌNH AN
HỒI BA – PHẦN HAI

Quân bài Malcolm đặt vào tay ta đã đưa ta đến cầu cảng một cách dễ dàng. Ta đã rất gần bờ, và từ đó, đám đông khổng lồ là một nơi ẩn thân hoàn hảo. Ta có thể chuồn khỏi hòn đảo ổ chuột rác rưởi này trong một giờ tới. Và lần này, sẽ không có ai tìm thấy ta.

Và rồi tất cả những gì ta nhìn thấy trong thâm tâm mình là khuôn mặt tức giận của hắn chìm vào biển thẳm.

Gã con hoang này.

Ta không thể bỏ hắn lại. Nhất là sau lần trong quá khứ. Ta không được phép chạy trốn. Ta biết mình phải đến đâu.

Sức ép xuất hiện, và rồi ta dịch chuyển.

Trong một tích tắc, ta đã ở ngay sau lưng Gangplank, sẵn sàng hành động.

Một gã tay sai phát hiện ra ta – gã trông bối rối tột độ, như thể đang cố nghĩ xem ta xuất hiện ở đây bằng cách nào. Trong khi gã còn đang vắt óc suy nghĩ, ta đấm thẳng vào mặt gã. Hắn gục xuống nơi đám côn đồ đang hoang mang. Chúng đều rút gươm hướng về phía ta. Gangplank dẫn đầu cuộc tấn công, chém thẳng vào cổ họng ta.

Nhưng ta là người nhanh hơn. Bằng một động tác khéo léo, ta khom đầu né tránh mũi gươm vòng cung và nẫng con dao găm bằng bạc quý giá của Gangplank khỏi thắt lưng của lão. Đằng sau, ta nghe thấy những tiếng chửi rủa có thể tách đôi cột buồm.

Ta nhảy lên boong, dắt con dao găm vào quần trong khi đoạn cuối của sợi xích đang trôi dần ra khỏi thành tàu. Ta vươn người và túm lấy mắt xích cuối cùng trước khi nó biến mất dưới biển.

Sợi xích kéo lê ta dọc thành tàu, và giờ ta mới nhận ra mình đã làm gì.

Dòng nước vồ vập lấy ta nhanh chóng. Trong cái khoảnh khắc đóng băng này, từng tế bào trong cơ thể ta muốn buông tay khỏi sợi xích. Việc là một người sinh ra ở vùng sông nước nhưng lại không biết bơi đã gây họa cho ta suốt cuộc đời. Giờ đây nó sẽ là điềm báo tử vong của ta.

Ta cố hớp lấy một ngụm không khí cuối cùng. Nhưng một viên đạn súng trường xuyên qua vai ta. Ta thét lên đau đớn, và đánh mất ngụm không khí cuối cùng trước khi bị kéo xuống biển.

Dòng nước lạnh buốt như đấm vào mặt khi ta chìm dần xuống đại dương xanh ngột ngạt.

Đây quả là một cơn ác mộng.

Nỗi hoảng hốt tràn ngập trong người. Ta cố gắng dập tắt nó. Suýt chút nữa nó đã thắng. Những phát bắn phía trên bờ vẫn xuyên qua làn nước. Ta thì cứ chìm dần.

Cá mập và cá quỷ bơi xung quanh ngày một gần. Chúng đã đánh hơi thấy mùi máu. Chúng theo ta xuống tận đáy biển sâu thẳm.

Chỉ còn lại sự khiếp hãi tột cùng. Không còn đau đớn gì nữa. Tiếng tim đập trong tai ta. Lồng ngực như bị thiêu cháy. Cần phải giữ không cho nước tràn vào thêm. Bóng tối bao trùm xung quanh ta. Đã xuống quá sâu rồi. Không còn đường quay lại. Giờ thì ta đã biết điều này.

Nhưng ta vẫn có thể cứu mạng Malcolm.

Phía dưới, có một tiếng huỵch, và sợi xích chùng đi. Khẩu đại bác đã chạm đáy biển.

Ta kéo bản thân theo sợi xích xuống tận cùng bóng tối. Có một hình hài dưới đó. Ta nghĩ đó là Graves. Ta kéo bản thân mình về phía hắn một cách cuồng loạn.

Hắn đang ở ngay trước mặt ta, dù ta chỉ thấy loáng thoáng khuôn mặt hắn. Ta nghĩ rằng hắn đang nghiêng đầu về phía ta, giận dữ với việc ta quay trở lại.

Ta sắp bất tỉnh. Cánh tay của ta tê liệt còn hộp sọ thì như bị nghiền nát.

Bỏ sợi xích ra, ta rút con dao găm từ thắt lưng. Đôi tay ta run lẩy bẩy.

Ta mò mẫm trong bóng tối. Bằng một phép mầu nào đó, ta tìm thấy ổ khóa cặp còng tay của Graves. Ta dùng mũi dao xoay vào ổ khóa, giống như hàng nghìn ổ khóa trước đây ta đã phá. Nhưng đôi tay ta không ngừng rung bần bật.

Ngay cả Graves cũng phải cảm thấy sợ hãi. Phổi của hắn có lẽ không thể chịu được thêm nữa. Ổ khóa vẫn không nhúc nhích.

Malcolm sẽ làm gì trong tình cảnh này?

Ta xoay con dao. Không cần khéo léo nữa – chỉ cần sức mạnh.

Hình như có gì đó. Ta nghĩ rằng ta đã tự cắt tay mình. Con dao đang rơi. Rơi thẳng xuống vực thẳm. Nó rơi mất rồi… Có phải nó đang phát sáng không?

Trên đầu ta, ngập tràn sắc đỏ tươi. Đỏ và cam… Ở mọi nơi. Nó tuyệt đẹp… Vậy ra cảm giác chết đi là như thế này.

Ta bật cười.

Nước tràn vào cơ thể.

Thật bình an.

LỬA THIÊU VÀ TRO TÀN, MỘT KẾT CỤC, MỌI THỨ CÒN CÓ THỂ TỆ HƠN
HỒI BA – PHẦN BA

Miss Fortune bắt đầu dọc trên bến cảng từ trên boong tàu của cô, con tàu Syren. Ngọn lửa ánh lên trong mắt khi cô tận hưởng mức độ hủy diệt tuyệt đối mà cô đã dày công sắp đặt.

Những gì còn sót lại trên tàu của Gangplank là đống đổ nát đang cháy dở. Lũ tay chân của lão, đứa thì chết cháy trong vụ nổ, đứa thì chết chìm trong cảnh hỗn mang, hoặc có đứa thì làm mồi cho bầy cá lưỡi dao nhung nhúc.

Đây là một cảnh tượng rực rỡ choáng ngợp. Một quả cầu lửa khổng lồ thắp sáng màn đêm như vầng thái dương mới.

Một nửa thành phố đã chứng kiến điều này; bản thân Gangplank cũng chứng kiến nó, cô biết lão quá rõ. Lão phải hành quyết cả Twisted Fate và Graves trước toàn thể Bilgewater. Lão muốn nhắc nhở mọi người lý do đừng bao giờ dại dột qua mặt lão. Với Gangplank, người khác chỉ là những công cụ để duy trì sự kiểm soát – nên cô đã dùng chính điều đó để giết lão.

Những tiếng la hét và tiếng chuông rung vang vọng khắp thành phố cảng. Những từ dưới đây sẽ được lan truyền nhanh hơn liệt hỏa liêu nguyên.

Gangplank đã chết.

Khóe môi cô cong lại thành một nụ cười.

Đêm nay chỉ đơn thuần là màn cuối: Thuê T.F, rỉ tai Graves – tất cả chỉ để đánh lạc hướng Gangplank. Phải mất bao nhiêu năm chỉ để báo được đại thù.

Nụ cười của Miss Fortune biến mất.

Ngay từ khoảnh khắc lão ập vào xưởng vũ khí của gia đình cô, khuôn mặt lão ẩn hiện đằng sau chiếc khăn rằn đỏ, cô đã chuẩn bị cho thời khắc này.

Sarah đã mất đi bố mẹ trong ngày đấy. Khi đó cô chỉ là một đứa trẻ, nhưng lão vẫn bắn gục cô khi cô đứng chôn chân nhìn cảnh bố mẹ mình máu chảy lênh láng trên sàn.

Gangplank đã dạy cô một bài học khắc nghiệt: rằng dù cho bạn cảm thấy an toàn thế nào, cả thế giới của bạn – mọi thứ bạn gầy dựng, mọi thứ bạn quan tâm – đều có thể bị tước đoạt chỉ trong nháy mắt.

Sai lầm duy nhất của Gangplank là không kiểm tra lại cô đã chết hay chưa. Cơn giận và mối hận thù đã giữ cô sống sót qua đêm đầu tiên lạnh lẽo và đau đớn, và mọi đêm kể từ ngày đó.

Suốt mười lăm năm ròng, cô đã góp nhặt mọi thứ mình cần vào một chỗ; chờ đợi đến khi cô thậm chí không còn trong kí ức của lão, để lão mất cảnh giác và hưởng thụ cuộc sống mà lão gầy dựng. Chỉ khi đấy lão mới thực sự trải nghiệm việc mất đi mọi thứ. Chỉ khi đấy lão mới hiểu cảm giác khi mất đi mái nhà, mất đi cả thế giới là như thế nào.

Lẽ ra cô phải cảm thấy hân hoan, nhưng cô chỉ cảm thấy thật trống rỗng.

Đứng cạnh cô ở mạn tàu, Rafen đánh thức cô khỏi những hồi tưởng.

“Lão ta đã chết,” gã nói. “Mọi thứ kết thúc rồi.”

“Không,” Miss Fortune đáp lời. “Chưa đâu.”

Cô ta quay đầu từ bến cảng, hướng tầm mắt dọc cả Bilgewater. Sarah đã mong rằng giết chết lão cũng sẽ làm tiêu tan sự thù hận trong lòng. Nhưng tất cả những gì cô đã làm chỉ là giải phóng nó. Lần đầu tiên kể từ ngày định mệnh đó, cô cảm thấy quyền lực thực sự.

“Đây mới chỉ là sự khởi đầu,” cô nói. “Ta muốn tất cả những ai đã từng trung thành với lão phải lộ diện để trả lời. Ta muốn treo đầu lũ phụ tá của lão trên tường. Thiêu hủy toàn bộ những nhà chứa, quán rượu và nhà kho vẫn còn dấu vết của lão. Và ta muốn thấy xác của lão.”

Rafen cảm thấy rúng động. Gã đã từng nghe thấy những lời như vậy trước đây, nhưng chưa bao giờ thấy cô nói vậy.

BẦU TRỜI ĐỎ RỰC, LÀM MỒI CHO THỦY QUÁI, HÒA GIẢI
HỒI BA – PHẦN BỐN

Ta đã từng nghĩ rất nhiều về những cách ta muốn từ giã cõi đời. Bị xiềng xích như chó chìm dưới đáy đại dương? Cách này chưa bao giờ nằm trong suy nghĩ của ta. May thay, T.F. đã nỗ lực bật tung ổ khóa còng tay của ta ngay khi hắn đánh rơi con dao.

Ta trườn ra khỏi xiềng xích, khát không khí khủng khiếp. Ta quay về hướng T.F. Gã khốn tội nghiệp này bất động. Ta vòng tay qua cổ áo hắn và bắt đầu đạp chân hướng lên mặt biển.

Khi chúng ta dần nổi lên, đột nhiên mọi thứ sáng lên một màu đỏ rực.

Một chấn động khiến ta đinh tai nhức óc. Hàng đống sắt thép chìm xuống. Cả một khẩu đại bác cũng trôi theo. Rồi một đoạn bánh lái rực cháy. Cả xác người nữa. Một khuôn mặt đầy hình xăm nhìn chằm chằm vào ta đầy vẻ bất ngờ. Nhưng hắn cũng chìm dần dần vào bóng tối sâu thẳm phía dưới.

Ta bơi nhanh hơn, phổi của ta sắp bung ra ngoài rồi.

Một lúc sau, ta đã ở trên mặt nước, ho lụ khụ nước muối biển và hớp lấy không khí. Gần như là không thể thở nổi. Khói mù bóp nghẹt ta và cào xé đôi mắt. Ta đã nhìn thấy nhiều thứ bị thiêu đốt trong đời, nhưng chưa từng thấy cảnh tượng như này. Cứ như thể ai đó đã thiêu cháy cả thế giới.

“Chết tiệt…” Ta nghe thấy bản thân đang lẩm bẩm.

Con tàu trứ danh của Gangplank đã biến mất. Từng đụn khói đang tản mát vương vất khắp vịnh. Từng hòn đảo chất đầy gỗ bốc cháy và sụp đổ, kêu xèo xèo khi chìm dần xuống biển. Một cột buồm cháy dở đổ sập xuống trước mặt ta, suýt chút nữa đã kéo cả T.F và ta trở lại đáy biển. Những gã thủy thủ bị hỏa thiêu đang nhảy nhót một cách tuyệt vọng từ những mảnh gỗ vụn vẫn cháy âm ỉ xuống nước, hòng có thể ngừng kêu thảm. Nó bốc mùi như thể tận thế – lưu huỳnh và tro bụi chết chóc; mùi tóc cháy khét và da tan chảy.

Ta ngó qua T.F. Ta đã rất khó khăn để giữ hắn trên mặt nước. Gã khốn này nặng hơn rất nhiều so với vẻ bề ngoài của hắn, trong khi một nửa chỗ xương sườn của ta đã gãy. Ta tìm thấy một mảnh thân tàu cháy xét đang trôi dạt gần đó. Nó trông có vẻ khá vững vàng. Ta kéo cả ta và hắn lên trên mảnh thân tàu. Nó không có vẻ gì có thể vượt biển thành công, nhưng nó sẽ làm được.

Lần đầu tiên trong đời, ta nhìn chăm chú vào T.F. Hắn không còn thở. Ta dùng nắm đấm của mình đập liên hồi vào ngực hắn. Ngay tại thời điểm ta lo rằng mình sẽ đấm vụn xương sườn hắn, hắn ho ra một bụng đầy nước biển. Ta ngồi sụp xuống và lắc đầu lần nữa khi hắn dần hồi tỉnh lại.

“Đồ con hoang ngu ngốc! Mày định quay lại để làm gì hả?”

Phải mất một phút thì hắn mới trả lời.

“Tao nghĩ rằng thử làm theo cách của mày xem sao,” hắn lẩm bẩm. “Xem cảm giác trở thành một gã vừa ngu vừa cứng đầu ra sao.” Hắn ứa ra một đống nước nữa. “Cảm giác dở tệ.”

Cá lưỡi dao và cả lũ thủy quái ghê gớm hơn khác đang bắt đầu quây xung quanh ta. Ta không định trở thành món tráng miệng cho bất cứ thứ gì. Ta kéo chân mình lên khỏi cạnh mảnh tàu.

Một gã tay chân bị thiêu cháy nham nhở ngoi lên mặt biển, cố túm lấy mảnh bè của ta. Ta dộng thẳng giày vào mặt hắn và đạp hắn xuống. Một cái xúc tu khổng lồ ngay lập tức quấn quanh cổ hắn và kéo hắn xuống. Giờ đây lũ thủy quái đang bận bịu với những thứ khác.

Trước khi chúng hết thịt tươi để nhâm nhi, ta bẻ một tấm ván từ tấm bè và dùng nó như mái chèo để nhanh chóng thoát khỏi bữa đại tiệc của thủy quái này.

Ta chèo liên tục dường như hàng giờ liền. Đôi tay ta nặng nề và đau ê ẩm, nhưng ta biết rằng vậy còn hơn dừng lại. Ngay khi tạo được khoảng cách nhất định giữa nơi đây và vụ thảm sát, ta nằm vật ra.

Ta sử dụng một vỏ đạn ghém để quan sát khắp vịnh. Nó nhuộm đỏ màu máu của Gangplank và băng đảng của hắn. Không thấy bất cứ ai sống sót cả.

Bằng cách nào mà ta vẫn hít thở vậy? Có lẽ ta là người may mắn nhất Runeterra này. Hoặc có thể T.F đã mang theo trong người đủ vận may cho cả hai chúng ta.

Ta nhìn thấy một cái xác trôi qua, trong tay hắn có thứ gì đó nhìn quen quen. Đó là tên khốn thân cận Gangplank, vẫn đang nắm chặt cái mũ của T.F. Ta giành lấy và quẳng nó cho T.F. Hắn chẳng có vẻ gì là ngạc nhiên cả, như thể hắn luôn biết rằng mình sẽ lấy lại nó.

“Giờ đây chúng ta chỉ cần tìm khẩu súng của mày thôi.” Hắn nói.

“Hả, mày vẫn ngứa ngáy muốn quay lại dưới kia à?” ta nói, chỉ tay xuống đáy biển.

Khuôn mặt T.F. chuyển sang một sắc xanh rất tức cười.

“Chúng ta không có thời gian. Dù cho kẻ nào đã làm chuyện này, Bilgewater đã trở thành nơi quần long vô chủ,” ta bảo với hắn. “Mọi thứ nơi đây sẽ trở nên tệ hại, sớm thôi.”

“Mày nói với tao rằng mày có thể sống mà không có khẩu súng đó ư?” Hắn hỏi.

“Có lẽ là không,” ta nói. “Nhưng tao biết một gã thợ làm súng cực kì giỏi ở Piltover.”

“Piltover…” hắn nói, và chìm vào suy tư.

“Hiện đang có rất nhiều tiền được chảy vào nơi đó,” ta nói.

T.F. tính toán lẩm nhẩm một thoáng chốc.

“Hmm. Tao không chắc về việc tiếp tục làm cộng sự với mày– mày thậm chí còn ngu hơn cả khi xưa,” cuối cùng hắn cũng mở lời.

“Được thôi. Tao cũng không chắc về việc có một thằng cộng sự tên là Twisted Fate. Thằng khỉ gió nào lại nghĩ ra một cái tên nhố nhăng vậy?”

“Ờ thì, nó vẫn còn hay hơn tên thật của tao một xíu,” T.F. cười lớn.

“Cũng có lý đấy,” ta thừa nhận.

Ta bật cười. Cảm giác như là những năm tháng xưa vậy. Rồi ta tỏ vẻ cứng rắn và nhìn hắn một cách nghiêm trọng nhất có thể.

“Chỉ một điều duy nhất: Mày mà dám nghĩ đến việc để tao giơ đầu chịu báng lần nữa, tao sẽ thổi tung đầu mày luôn. Không lý do lý trấu gì hết.”

Twisted Fate cười lăn lộn, và trong một khoảng khắc, hắn liếc mắt lại phía ta. Và rồi, một lúc sau, hắn chỉ mỉm cười và nói.

“Thỏa thuận như vậy đi.”

SỰ HỖN MANG, PHẾ NHÂN, MỤC ĐÍCH
HỒI KẾT

Bilgewater đang tự nuốt bản thân nó ngấu nghiến. Khắp phố văng vọng tiếng la thảm của những kẻ đang tuyệt vọng và hấp hối. Những đám cháy từ khu ổ chuột hạ lưu phủ một cơn mưa tàn lửa lên toàn thành phố. Không còn sự kiểm soát, và giờ đây mọi băng đảng đều vội vã để lấp đầy khoảng trống đầy quyền lực bởi sự sụp đổ của một người duy nhất. Một cuộc chiến đã nổ ra chỉ bởi ba từ đơn giản được phát tán khắp nơi: Gangplank đã chết.

Những dã tâm thầm kín và những hận thù nhỏ mọn nung nấu suốt bao nhiêu năm trời hiện đang bùng phát dữ dội.

Trên bến cảng, đám thuyền viên của một tàu đánh cá voi đã hạ gục một ngư dân đối thủ. Chúng xiên hắn ta bằng que móc và để cái xác treo trên lưới đánh cá.

Ở đỉnh núi cao nhất của hòn đảo, những cánh cửa cao sang trọng đứng sừng sững kể từ khi Bilgewater được thành lập đã bị đập méo mó. Một gã trùm băng đảng khúm núm bị kình địch xé xác khi đang ngủ trên giường. Tiếng khóc yếu ớt của hắn im bặt khi hộp sọ hắn bị đập vào những bậc cửa vào bằng đá cẩm thạch.

Ngoài cầu cảng, một gã Mũ Đỏ bỏ chạy đang cố gắng cầm máu một vết thương trên đầu. Hắn nhìn lại qua vai nhưng không thấy dấu hiệu nào của những kẻ truy đuổi. Lũ Móc Câu Lởm Chởm đã trở mặt với băng Mũ Đỏ. Hắn cần phải quay trở về nơi ẩn nấp để cảnh báo mọi người trong băng.

Hắn chạy vòng qua góc đường, gào thét những người anh em tập trung lại và đi cùng hắn. Nhưng cơn khát máu của hắn trở nên khô khốc trong cổ họng. Đứng trước trang trại riêng của băng Mũ Đỏ là một nhóm Móc Câu. Những lưỡi gươm của chúng ròng ròng máu chảy. Đứng đầu là một hình dáng gày gò, trông không ra hình người, nở nụ cười quỷ quyệt khiến khuôn mặt bệnh tật của hắn nhăn nheo lại.

Gã Mũ Đỏ chỉ đủ thời gian để thốt ra một câu chửi thề cuối cùng.

Dọc bờ vịnh ở một hẻm tối yên tĩnh, một gã bác sĩ đang miệt mài cố gắng thực hiện giao kèo của mình. Đống vàng gã nhận được là quá nhiều để mua sự phục vụ hết mức – và đảm bảo gã không hé răng nửa lời.

Mất nửa giờ để lột lớp da ướt sũng từ cánh tay bong da thịt của người bệnh nhân. Gã bác sĩ đã từng thấy nhiều chấn thương khủng khiếp, nhưng ngay cả gã cũng chùn bước khi thấy cánh tay nham nhở này. Hắn dừng lại một thoáng chốc, e sợ những lời tiếp theo của hắn sẽ kích động một phản ứng không lành.

“Tôi… Tôi xin lỗi. tôi không thể giữ lại cánh tay ông.”

Trong bóng tối của căn phòng dưới ánh nến, thân thể máu me tưởng như bị hủy hoại của người đàn ông đã lảo đảo đứng dậy. Cánh tay còn nguyên vẹn của hắn tung ra như một ngọn roi túm chặt lấy cổ họng của gã bác sĩ run rẩy. Lão nhấp bổng gã bác sĩ một cách chậm rãi và ấn gã vào tường.

Một khoảnh khắc lâu đến khủng khiếp, lão già mạnh phi thường này đứng bình thản, soi xét gã bác sĩ đang nằm trong tay. Rồi lão đột ngột thả gã ra.

Vừa hoảng loạn vừa lo lắng, gã thầy y ho liên hồi khi bóng đen khổng lồ bước về phía sau căn phòng khám. Đi qua ánh đèn lồng của phòng phẫu thuật, lão bệnh nhân với lên ngăn trên cùng của một tủ đồ cũ rích. Một cách chuẩn mực, lão mở từng ngăn kéo để tìm thứ mình cần. Cuối cùng, lão đã dừng lại.

“Mọi việc đều phải có mục đích của nó,” lão nói, nhìn vào cánh tay đã phế của mình.

Hắn kéo một thứ gì đó từ ngăn tủ, và quẳng nó xuống chân gã bác sĩ. Ở đó, tỏa sáng dưới đèn lồng là ánh thép lạnh của một lưỡi cưa xương.

“Cắt bỏ nó đi,” lão nói. “Ta còn có việc phải làm.”

Truyện Ngắn của GANGPLANK – HIỂM HỌA VÙNG SALTWATER 3: BÓNG ĐÊM VÀ VẬN MỆNH

TÁC GIẢ: GRAHAM MCNEILL

Bọn Lưỡi Đao Đồ Tể treo tên Quạ Xám trên cây cọc, bỏ mặc gã cho lũ ăn xác thối ngoài bến tàu. Trong đêm nay, đây là tên lưu manh thứ mười bảy bị giết trước sự chứng kiến của người mang mũ trùm.

Một đêm chậm chạp theo chuẩn của Bilgewater.

Ít nhất là kể từ khi Vua Hải Tặc bị hạ bệ.

Bầy chuột cầu cảng đã ăn gần hết chân kẻ bị treo và đang leo lên đống giỏ câu để thưởng thức phần thịt mềm nơi bắp đùi.

Người mang mũ trùm tiếp tục đi.

“Cứu. Tôi.”

Giọng nói nghèn nghẹn vang lên. Người mang mũ trùm quay phắt lại, tay đặt lên vũ khí.

Thật lạ là tên Quạ Xám vẫn còn sống sau khi bị cây cọc xuyên qua. Bọn Đồ Tể đã đóng nó sâu vào trong khung gỗ của một cần trục. Chẳng có cách nào đưa gã xuống mà không giết chết gã cả.

“Cứu. Tôi,” gã lặp lại.

Người mang mũ trùm ngừng lại, cân nhắc lời thỉnh cầu của gã Quạ Xám.

“Để làm gì?” cuối cùng anh nói. “Dù có đưa được ngươi xuống, ngươi cũng không sống được đến sáng.”

Tên Quạ Xám cho tay vào túi ngầm của áo chẽn và lấy ra một đồng Kraken vàng. Ngay cả trong ánh sáng lờ mờ, người mang mũ trùm cũng thấy nó là tiền thật.

Bầy thú ăn xác rú rít và xù lông lên khi anh lại gần. Chuột cầu cảng chẳng to lớn gì, nhưng miếng thịt nóng ấm kia không phải một phần thưởng mà chúng dễ dàng từ bỏ. Chúng nhe những chiếc nanh dài, nhọn như kim, và phun phì phì.

Anh đá văng một con xuống nước, dẫm bẹp con thứ hai. Chúng cắn trả, nhưng đôi chân khéo léo của anh né được bằng những bước di chuyển nhịp nhàng và chính xác. Anh giết thêm ba con nữa trước khi lũ còn lại chạy tứ tán vào bóng tối, cặp mắt đỏ rực giữa màn đêm.

Người mang mũ trùm đứng cạnh tên Quạ Xám. Diện mạo của anh bị che khuất sau lớp vải, nhưng dưới ánh trăng đơn độc, người ta cũng có thể hình dung ra một khuôn mặt đã từ lâu không nở nụ cười.

“Cái chết dành cho ngươi,” anh nói. “Hãy chào đón nó. Đừng lo lắng, ta đảm bảo nó sẽ nhanh chóng thôi.”

Anh lần tìm trong áo choàng và lấy ra một cây dùi bạc. Dài hai gang và phủ đầy những ký hiệu cuộn xoắn dọc theo thân, nó trông giống một thứ dụng cụ hoa mỹ của những nghệ nhân đồ da. Anh đặt mũi nhọn vào dưới cằm người đang hấp hối.

Đôi mắt kẻ khốn khổ mở to, gã quờ quạng cố nắm lấy tay áo người mang mũ trùm trong khi anh nhìn ra ngoài đại dương rộng lớn. Mặt biển như một tấm gương đen lấp lánh phản chiếu những ngọn nến, những lò than ngoài bến cảng và những ánh đèn chiếu ra từ ô kính của hàng ngàn con tàu.

“Các ngươi biết thứ gì ẩn náu bên kia đường chân trời,” anh nói. “Các ngươi biết nỗi kinh hoàng mà nó mang lại. Thế mà các ngươi vẫn cắn xé lẫn nhau như bầy thú dại. Thật vô lý.”

Anh quay lại và ấn mạnh cây dùi. Tên Quạ Xám giãy lên một cái và nỗi đau của gã chấm dứt. Đồng vàng rơi qua kẽ tay, lăn xuống nước.

Người mang mũ trùm rút cây dùi ra và lau nó vào cái áo rách nát của kẻ chết. Anh cất nó vào trong áo choàng và lấy ra một cây kim bằng vàng cùng một đoạn chỉ bạc ngâm trong nước suối Ionia.

Bằng sự thành thạo của một người đã thực hiện nhiệm vụ này nhiều lần trước đây, anh khâu mắt và miệng kẻ chết lại. Trong lúc làm việc, anh xướng lên những từ ngữ đã được dạy từ lâu, những từ ngữ từng thốt ra từ miệng một vị vua đã băng hà nhiều đời trước.

“Giờ cái chết không thể chạm tới ngươi,” anh nói khi kết thúc công việc và cất chỗ dụng cụ đi.

“Có lẽ là không, nhưng chúng tao sẽ không rời đi tay trắng, chắc chắn là thế,” một giọng nói vang lên phía sau người mang mũ trùm.

Anh quay lại và bỏ mũ trùm, để lộ ra làn da sẫm màu, xương gò má cao và quý tộc. Mái tóc đen buộc túm lại và đôi mắt từng thấy những điều kinh khủng ngoài sức tưởng tượng đang đánh giá những kẻ mới đến.

Sáu tên, mặc áo da vấy máu, tay áo cắt cụt để lộ ra những cánh tay cơ bắp phủ đầy hình xăm gai nhọn. Mỗi tên cầm một cây móc có răng cưa, thắt lưng lủng lẳng đủ loại dao hàng thịt. Bọn kẻ cướp mới nổi sau sự sụp đổ của tay bạo chúa từng cai trị Bilgewater bằng nắm đấm sắt. Với sự biến mất của hắn, thành phố chìm trong hỗn loạn khi các băng nhóm thù địch tranh giành nhau lãnh địa mới.

Chẳng ai che giấu được việc chúng đến gần. Ủng đóng đinh, mùi hôi và tiếng chửi thề đã thông báo sự xuất hiện của chúng trước cả khi chúng chường mặt ra.

“Tao không để ý đến việc một đồng xu rớt xuống chỗ Quý Bà Râu đâu,” tên to con nhất trong đám Đồ Tể nói, gã có cái bụng bự đến nỗi người ta phải thắc mắc liệu gã có thể đến đủ gần một cái xác để xẻ thịt nó không. “Nhưng một trong chúng tao đã giết thằng nhãi kia một cách công bằng, chắc chắn là thế. Nên đồng Kraken đó là của chúng tao.”

“Các ngươi muốn chết ở đây à?” người mang mũ trùm hỏi.

Tên béo phá lên cười.

“Mày biết mày đang nói chuyện với ai không?”

“Không. Ngươi thì sao?”

“Thế thì nói đi, để tao có thể khắc nó lên bia mộ của mày.”

“Tên ta là Lucian,” anh nói, hất áo choàng về sau và rút ra một cặp súng lục làm từ đá và thứ kim loại sáng bóng mà ngay cả những nhà giả kim điên rồ nhất ở Zaun cũng không biết đến. Một luồng sáng chói lòa khiến gã béo gục xuống với một cái lỗ cháy xém ở nơi từng là trái tim của gã.

Khẩu súng lục thứ hai của Lucian nhỏ hơn, chế tạo tinh xảo hơn, và bắn ra một tia lửa vàng cắt đôi một tên khác.

Y như lũ chuột cầu cảng, chúng bỏ chạy, nhưng Lucian hạ từng tên một. Mỗi chớp sáng là một phát bắn đoạt mạng và trong nháy mắt sáu tên Đồ Tể nằm la liệt trên mặt đất.

Anh cất súng đi và kéo áo choàng quấn quanh người. Nhiều tên khác sẽ bị thu hút tới bởi tiếng động của chuyện vừa xảy ra, và hắn không có thời gian để cứu linh hồn những kẻ đó khỏi thứ đang đến.

Lucian thở dài. Đúng là sai lầm khi dừng lại vì gã Quạ Xám, nhưng có lẽ con người trước đây của anh vẫn chưa hoàn toàn mất đi. Một ký ức chực trỗi dậy và anh lắc đầu để xua tan nó.

“Ta không thể lại trở thành kẻ đó,” Lucian nói.

Anh không đủ mạnh để giết Cai Ngục Xiềng Xích.

Bộ giáp của Olaf phủ đầy máu. Ông gầm gừ khi vung cây rìu được rèn ra trong Chân Băng ở nơi tận cùng của Freljord. Một lỗ hổng mới lại mỗi lần thứ vũ khí đó bổ xuống.

Cầm cây đuốc rực cháy ở tay kia, ông lội qua đống nội tạng của con Krakenwyrm, mở ra một con đường sau mỗi nhát rìu. Ông mất ba giờ để đến chui vào trong cái xác khổng lồ của con thủy quái.

Đúng là con quái thú đã chết từ một tuần trước sau một tháng dài săn đuổi từ phương Bắc. Hơn ba chục mũi lao phóng ra từ những cánh tay mạnh mẽ trên boong tàu Nụ Hôn Mùa Đông đã xuyên thủng lớp da đầy vảy của nó, nhưng chính mũi giáo của Olaf mới chính thức kết thúc trận chiến.

Giết quái vật giữa tâm một cơn bão ngoài khơi Bilgewater thật là phấn khích, và trong một lúc ngắn ngủi – khi con thuyền chồm lên và suýt nữa ném ông vào bụng con thú – ông nghĩ đó có thể là thời khắc ông đánh lừa được số phận và nhận lấy cái chết huy hoàng ông hằng tìm kiếm.

Nhưng rồi cái tay Svarfell lái tàu đó, quỷ tha ma bắt đôi vai cường tráng của gã đi, đã đưa con thuyền về thế cân bằng.

Và thật buồn là Olaf đã sống. Gần thêm một ngày nữa với nỗi sợ phải chết yên bình trên giường như một lão già lụ khụ.

Họ thả neo ở Bilgewater, hy vọng sẽ bán được cái xác và thu hoạch chiến tích từ nó; những cái răng sắc nhọn, loại máu đen cháy được như dầu, và bộ xương sườn khổng lồ để làm mái cho lâu đài của mẹ ông.

Đám người trong bộ tộc, kiệt sức sau cuộc săn, đang ngủ trên sàn tàu Nụ Hôn Mùa Đông, nhưng Olaf thì không thể nghỉ ngơi. Ông cầm rìu lên và bắt tay vào xẻ thịt con quái vật to xác này.

Cuối cùng hắn cũng thấy được khoang miệng của nó, một cái túi đủ lớn để nuốt cả một bộ tộc hoặc nghiền nát một con thuyền ba mươi tay chèo. Hàm răng như những cái đục bằng đá đen.

Olaf gật gù. “A. Rất vừa để làm một vòng lửa cho những kẻ lữ hành và đám thầy bói.”

Ông cắm cây đuốc xuống và bắt đầu công việc, chặt vào xương hàm đến khi một cái răng rời ra. Giắt búa vào thắt lưng, Olaf nhấc nó lên và đặt lên vai, khẽ rủa trước sức nặng của nó.

“Cứ như một con quỷ khổng lồ đi kiếm băng xây tổ,” ông càu nhàu rồi lần mò tìm đường ra.

Cuối cùng ông cũng bước qua lỗ hổng của vết thương bên sườn con Krakenwyrm và hít đầy phổi thứ không khí trong lành hơn một chút. Bilgewater là một đống hổ lốn những khói, sương và xác chết. Không khí nơi này nặng mùi của quá nhiều người sống chen chúc như một chuồng gia súc.

Ông nhổ một bãi nước bọt và nói, “Olaf trở về phương Bắc sớm chừng nào tốt chừng ấy.”

Không khí của Freljord sắc lạnh đến thấu xương. Ở đây thì toàn mùi sữa hỏng và thịt ôi.

“Này!” một giọng nói vọng qua mặt nước.

Olaf liếc nhìn vào bóng tối và thấy một ngư dân đã chèo thuyền ra biển, phía bên kia một hàng phao đánh dấu chẳng hiểu sao lại treo đầy chim chết và chuông.

“Con quái đó vừa thải anh ra hả?” người đánh cá kêu lên.

Olaf gật đầu và nói, “Tôi không có tiền đi tàu, nên tôi để nó nuốt mình ở Freljord và đưa xuống phương Nam.”

Người đánh cá cười và uống một ngụm từ cái chai vỡ bằng thủy tinh xanh. “Tôi sẽ ngồi đây và nghe câu chuyện dài đó!”

“Hãy lên tàu Nụ Hôn Mùa Đông và hỏi Olaf,” ông hét lên. “Chúng ta sẽ cùng làm một thùng Gravöl và vinh danh con quái này với những bài ca về cái chết.”

Không khí quanh Cầu Cảng Trắng thường đầy mùi phân chim và cá chết. Hôm nay nó lại có mùi khét của thịt cháy và gỗ bị thiêu rụi, thứ mùi khiến Miss Fortune liên tưởng tới cái chết của vô số thủ hạ của Gangplank. Tro bụi nhuộm đen bầu trời và khói nồng nặc bay về phía Tây từ những thùng mỡ thủy quái trên Cảng Lò Mổ. Miss Fortune thấy khó chịu trong miệng và nhổ xuống đám ván gỗ cong queo của cầu cảng. Mặt nước bên dưới nổi váng lên với những thứ phân hủy ra từ hàng ngàn xác chết chìm bên dưới từ nhiều năm nay.

“Ngươi và những người khác đã có một đêm bận rộn đấy,” cô nói, hất đầu về phía làn khói đang bốc lên phía vách đá phía Tây.

“Ây, đúng là thế,” Rafen đồng ý. “Quá nhiều thủ hạ của Gangplank chìm xuồng trong hôm nay.”

“Ngươi kiếm được bao nhiêu?” Miss Fortune nói.

“Thêm mười tên Vách Núi,” Rafen nói. “Và bọn Vảy Xương sẽ không làm phiền chúng ta nữa.”

Miss Fortune gật đầu đồng ý và quay sang nhìn cỗ đại bác bằng đồng chạm trổ công phu trên bến cảng.

Jackknife Byrne nằm trong đó; chết bởi phát đạn anh trúng phải trong cái ngày mà mọi thứ thay đổi, cái ngày mà Vũng Tử Thần nổ tung trước con mắt của toàn thể cư dân Bilgewater.

Viên đạn đáng ra sẽ bắn vào cô.

Giờ là lúc Byrne chìm xuống đó cùng những người chết khác và cô phải ở đó để chứng kiến. Khoảng hai trăm người, đàn ông và đàn bà, đến để bày tỏ lòng kính trọng; những phụ tá của cô, thành viên cũ trong băng của Byrne và những người lạ mà cô nghĩ có lẽ là thủy thủ đoàn trước đây hoặc những kẻ tò mò muốn đến để nhìn người đã hạ Gangplank.

Byrne nói anh từng có một con tàu riêng, một chiến hạm hai cột buồm từng là nỗi kinh hoàng trên bờ biển Noxus, nhưng cô cũng chỉ nghe anh kể như vậy. Có thể đúng, có thể sai, nhưng ở Bilgewater, sự thật thường kỳ lạ hơn bất kỳ câu chuyện nào được những người hát rong kể lại.

“Ta thấy ngươi cũng khiến bọn chúng đánh lẫn nhau ngoài Cảng Lò Mổ nữa đấy chứ,” Miss Fortune vừa nói vừa phủi tro bụi dính trên áo. Mái tóc đỏ đổ xuống dưới cái mũ ba sừng và phủ lên vai áo choàng.

“Ừ, không khó để khiến bọn Chó Phố Chuột và Vua Cầu Cảng chống đối nhau,” Rafen nói. “Ven Gallar luôn nhòm ngó đến khu này. Người của Says Travyn lấy nó của ông già hắn chừng mười năm trước.”

“Thật hả?”

“Ai biết chứ?” Rafen nói. “Chẳng quan trọng. Gallar sẽ nói bất kỳ điều gì để giành quyền kiểm soát phần này của cảng. Tôi chỉ giúp hắn chút thôi.”

“Giờ cũng chẳng còn nhiều để mà kiểm soát nữa.”

“Đúng,” Rafen nhe răng cười đồng ý. “Chúng giết nhau chết gần hết rồi. Chưa tính đến việc một trong hai băng đó sẽ sớm gây rắc rối cho chúng ta nữa.”

“Thêm một tuần thế này và sẽ không còn tay chân nào của Gangplank sống sót.”

Rafen nhìn cô lạ lùng và Miss Fortune giả bộ không nhận ra.

“Thôi, cho Byrne yên nghỉ đi,” Miss Fortune nói.

Họ bước đến chỗ khẩu đại bác, sẵn sàng lăn nó xuống biển. Một rừng vật đánh dấu bằng gỗ bập bềnh trên mặt nước, từ những đĩa gỗ đơn giản đến những bức tượng rắn biển cầu kỳ.

“Có ai muốn nói gì không?” Miss Fortune hỏi.

Mọi người im lặng, và cô gật đầu với Rafen, nhưng trước khi họ đưa được khẩu đại bác xuống nước, một giọng nói oang oang vang khắp cầu cảng.

“Ta có lời muốn nói.”

Miss Fortune quay lại và thấy một phụ nữ to lớn mặc bộ váy sặc sỡ đang bước xuống bến cảng hướng về phía họ. Một đội quân xăm trổ đầy mình đi theo sau; mười hai thanh niên cầm giáo, súng lục nòng rộng và chùy cong. Chúng đi nghênh ngang như một đám lưu manh tự phụ, đứng cạnh người phụ nữ như thể chúng sở hữu cả bến cảng này.

“Bảy địa ngục ơi, bà ta làm gì ở đây?”

“Illaoi biết Byrne à?”

“Không. Bà ta biết ta,” Miss Fortune nói. “Ta nghe nói bà ta và Gangplank từng có chuyện với nhau, ngươi biết không?”

“Thật à?”

“Vậy lời đồn là đúng.”

“Quý Bà Râu ạ, thảo nào mấy tuần trước người của Okao lại gây khó dễ cho chúng ta đến thế.”

Illaoi mang theo một quả cầu đá nặng nề như mỏ neo của chiếc Syren. Vị nữ tư tế mang theo nó đến bất kỳ nơi nào bà ta tới, và Miss Fortune nghĩ nó là một dạng vật tổ cho tín ngưỡng của người bản xứ. Cái mà những người khác gọi là Quý Bà Râu thì họ gọi bằng một cái tên gần như không thể phát âm nổi.

Illaoi lôi từ đâu ra một quả xoài đã bóc vỏ và cắn một miếng. Bà ta nhai nhóp nhép bằng cái miệng rộng ngoác như nòng pháo.

Cả đời này Miss Fortune chưa bao giờ ước ao một khẩu đại bác sẽ được nạp đạn và châm lửa đến thế.

“Một người dân của Bilgewater xứng đáng được Nagakabouros ban phúc, phải không?”

“Sao lại không nhỉ?” Miss Fortune đáp. “Anh ta đi xuống gặp nữ thần mà.”

“Nagakabouros không sống dưới lòng biển sâu,” Illaoi nói. “Chỉ những kẻ da hồng ngu ngốc mới nghĩ thế. Nagakabouros nằm trong tất cả những gì chúng ta làm để đưa chúng ta đi con đường của chúng ta.”

“Vâng, tôi mới ngu ngốc làm sao,” Miss Fortune nói.

Illaoi nhổ phần xơ của quả xoài xuống nước và vung quả cầu đá ra xung quanh như một viên đạn pháo khổng lồ, giơ nó lên trước mặt Miss Fortune.

“Cô không ngốc, Sarah,” Illaoi bật cười nói. “Nhưng cô thậm chí còn không biết cô là ai, cô đã làm gì.”

“Thật ra thì bà làm gì ở đây, Illaoi? Vì anh ta ư?”

“Ha! Hoàn toàn không,” Illaoi khịt mũi. “Đời ta là dành cho Nagakabouros. Một vị thần hay một con người? Lựa chọn kiểu gì vậy?”

“Chẳng có gì,” Miss Fortune. “Quá đen cho Gangplank.”

Illaoi cười, mồm vẫn đầy những xoài.

“Cô không làm sai,” bà ta chầm chậm gật đầu, “nhưng cô vẫn không chịu nghe tôi. Cô gỡ một con cá chình đao ra khỏi móc câu, cô phải dẫm lên cổ nó và bước đi trước khi nó cắm ngập hàm răng vào cô. Thế là mọi chuyển động của cô sẽ vĩnh viễn mất đi.”

“Thế là thế quái nào?”

“Hãy đến gặp ta khi cô hiểu ra,” Illaoi cầm lấy tay cô. Một lá bùa bằng san hô hồng, với những đường vân tỏa ra từ một điểm trung tâm trông như một con mắt mở trừng trừng, được đặt vào bàn tay cô.

“Giữ lấy đi,” Illaoi nói.

“Cái gì thế?”

“Một dấu hiệu của Nagakabouros để dẫn dắt cô khi cô lạc lối.”

“Thế thật ra nó là cái gì?”

“Chẳng là gì hơn những điều tôi vừa nói.”

Miss Fortune lưỡng lự, nhưng có quá nhiều người ở đây để cô có thể công khai chống lại nữ tư tế của Quý Bà Râu bằng cách từ chối món quà của bà ta. Cô cầm lá bùa và bỏ mũ ra để đeo nó vào trong khi Illaoi ghé về phía trước và thì thầm.

Illaoi cúi xuống thì thầm.

“Tôi không nghĩ là cô ngu ngốc đâu,” Illaoi nói. “Hãy chứng minh là tôi đúng đi.”

“Sao tôi phải quan tâm xem bà nghĩ gì?” Miss Fortune đáp trả.

“Vì một cơn bão đang đến,” Illaoi nói, hất đầu về phía thứ gì đó đằng sau vai Miss Fortune. “Cô biết nó, nên tốt nhất cô nên sẵn sàng chiến đấu.”

Bà ta quay đi và đá khẩu đại bác có chứa Byrne ra khỏi cầu cảng. Nó rơi ùm xuống nước và chìm dần trong một đám bọt bong bóng trước khi cái váng chất phân hủy tái hiện, để lại một vật đánh dấu dập dềnh để chỉ ra ai đang nằm bên dưới.

Vị nữ tư tế của Quý Bà Râu quay về ngôi đền trên miệng vách đá theo con đường bà ta đã đến, và Miss Fortune trầm ngâm nhìn ra biển.

Một cơn bão đang nhen nhóm trong lòng đại dương sâu thẩm, nhưng đó có phải nơi Illaoi đã nhìn không.

Bà ta đã nhìn về phía Quần Đảo Bóng Đêm.

Chưa có ai câu cá ở Vịnh Bilgewater vào ban đêm.

Tất nhiên là Piet biết tại sao, anh đã biết những vùng nước này cả đời. Những dòng thủy lưu phản trắc, những tảng đá ngầm náu mình ngay dưới mặt nước, và đáy biển đầy xác những con tàu mà thuyền trưởng của chúng đã không dành cho biển cả sự tôn trọng tương xứng. Nhưng, quan trọng hơn, ai cũng biết linh hồn những người bị chết chìm dưới biển đang rất cô đơn và muốn người khác gia nhập đội ngũ của họ.

Piet biết tất cả, nhưng anh vẫn phải nuôi gia đình.

Con tàu của thuyền trưởng Jerimiad đã cháy thành than trong trận giao tranh giữa Gangplank và Miss Fortune, Piet giờ không có việc làm và không có tiền mua thức ăn.

Anh tu hết nửa chai rượu táo để có can đảm đẩy thuyền xuống nước trong đêm, và viễn cảnh được uống rượu cùng một gã Freljord khổng lồ giúp anh vững tâm lại.

Piet uống thêm một ngụm rượu, giật mạnh phần râu dưới cằm và bắt đầu rót một vòng để tỏ lòng tôn kính với Quý Bà Râu.

Được hơi men ủ ấm, Piet chèo thuyền qua đám phao cảnh báo và lũ chim chết mắc trên đó đến khi anh tới được vùng biển gần nơi anh đã gặp may đêm trước. Jeremiad luôn nói anh có cái mũi đánh hơi được nơi cá sẽ cắn câu, và anh thấy rằng chúng sẽ tụ tập lại ở nơi những xác chết trong vụ Vũng Tử Thần trôi giạt đến.

Piet thu mái chèo và xếp chúng lại gọn ghẽ trước khi uống nốt chai rượu. Sau khi chắc rằng mình vẫn còn để lại một ngụm trong chai, anh ném nó xuống biển. Bằng những ngón tay mệt mỏi, run run vì say, anh móc vào lưỡi câu những con dòi lấy ra từ xác chết và buộc dây câu lên cọc.

Anh nhắm mắt và cúi gập người bên hông thuyền, đặt hai tay xuống nước.

“Nagakabouros,” anh nói, hy vọng dùng cái tên bản xứ của Quý Bà Râu sẽ mang lại nhiều may mắn hơn, “tôi không đòi hỏi gì nhiều. Làm ơn giúp tên đánh cá nghèo khổ này và cho anh ta vài miếng trong kho thức ăn của người. Hãy trông nom tôi và giữ tôi an toàn. Và nếu tôi chết trong vòng tay người, hãy đón nhận tôi dưới đó giữa những người đã khuất.”

Piet mở mắt.

Một khuôn mặt nhợt nhạt đang nhìn lại, chập chờn trên mặt nước. Ngọn lửa lạnh, không chút sinh khí tỏa sáng mờ mờ trên nó.

Anh hét lên và ngã ngửa xuống thuyền khi đám dây câu lần lượt bị kéo căng ra. Chúng khiến con thuyền quay vòng vòng khi sương cuộn lên từ mặt biển. Màn sương nhanh chóng trở nên dày đặc và ánh sáng trên những vách đá của Bilgewater biến mất trong bóng tối tràn vào từ ngoài khơi xa.

Tiếng kêu chối tai của một con chim chết cất lên giữa đám phao cảnh báo, theo sau đó là tiếng leng keng của những cái chuông khi những xác chim lắc lư theo gió.

Màn Sương Đen…

Piet quờ quạng với lấy mái chèo, cố gắng đặt chúng vào vị trí trong hoảng sợ. Màn sương lạnh cóng và những sợi chỉ đen chết chóc len lỏi qua da anh khi nó tràn đến. Anh rùng mình khi cái lạnh của cõi chết chạy dọc xương sống.

“Quý Bà Râu, Mẹ Biển Sâu, Nagakabouros,” anh thổn thức. “Làm ơn hãy dẫn tôi về nhà. Làm ơn, tôi cầu xin-”

Piet không bao giờ kết thúc được lời khẩn cầu của mình.

Một cặp móc xích bật ra từ ngực anh, những giọt máu đỏ sẫm nhỏ xuống từ đầu móc. Cái móc thứ ba xuyên qua bụng, một cái khác xuyên qua cổ. Cái thứ năm và sáu khoét qua bàn tay và hất anh ngã xuống, ghim Piet lên sàn thuyền.

Cơn đau chạy qua người anh và anh hét lên khi một khuôn mặt tàn ác bay ra từ màn sương đen. Ngọn lửa màu ngọc lục bảo tỏa sáng trên cái đầu có sừng của nó, và những cái lỗ do bầy linh hồn thù hận tạo ra rực cháy khi chúng ngấu nghiến nỗi đau của anh.

Bóng ma đó mặc một bộ áo choàng màu đen xưa, và một chùm chía khóa rỉ sét kêu sột soạt ở bên hông. Trên tay hắn nắm chắc một cây đèn lồng đầy tiếng than vãn và lắc lư trong niềm vui bệnh hoạn.

Piet cảm nhận linh hồn mình dần tách rời hơi ấm của da thịt khi lớp kính của cây đèn lồng đến từ địa ngục mở ra để đón anh vào. Sâu trong đó là tiếng rên rỉ của những linh hồn đang bị giày vò đến phát điên trong nỗi khổ đau bất tận. Piet cố gắng giữ linh hồn lại trong cơ thể, nhưng một lưỡi đao ma quái cắt qua và quãng thời gian anh có mặt trên thế giới chấm dứt khi lồng kính đóng sập lại.

“Ngươi là một linh hồn khốn khổ,” kẻ tước đoạt sự sống của anh nói, giọng hắn như tiếng sỏi rải trên bia mộ. “Nhưng ngươi là kẻ đầu tiên Thresh có được trong đêm nay.”

Màn sương đen khẽ lay động, và hình bóng những ác linh, những hồn ma đang gào thét và những kỵ sĩ ma quỷ xuất hiện trong đó.

Bóng tối trỗi dậy từ biển cả và tràn vào đất liền.

Và những ngọn đèn ở Bilgewater vụt tắt.

Miss Fortune lấy đạn ra khỏi súng và đặt chúng trên bàn cạnh thanh đoản kiếm. Tiếng chuông dồn dập và những tiếng la hét vọng lên từ thành phố bên dưới. Cô biết rõ nó báo hiệu điều gì.

Đêm Thống Khổ.

Bất chấp cơn bão sắp đến, cô vẫn mở toang cửa sổ của tòa nhà mới mua, như muốn thách thức cái chết. Gió thì thầm mang theo nỗi khao khát của dân chúng và cái lạnh ngấm đến tận xương.

Nằm chênh vênh trên vách đá phía Đông Bilgewater, căn biệt thự từng thuộc về một tên đầu đảng, nhưng trong cơn hỗn loạn khi thế lực của Gangplank sụp đổ, hắn bị lôi khỏi giường và não hắn văng tung tóe trên con đường rải sỏi.

Giờ tòa nhà thuộc về Miss Fortune, cô sẽ bị nguyền rủa nếu đi lại con đường ấy. Ngón tay cô chạy dọc theo những đường vân trên lá bùa Illaoi đã đưa cho. Chất san hô chạm vào thật ấm, và dù cô không thực sự tin vào thứ nó đại diện, nó cũng là một vật trang trí khá đẹp.

Cánh cửa căn phòng mở ra và cô rời tay khỏi lá bùa.

Không cần quay lại cô cũng biết ai đang đứng sau lưng mình. Chỉ có một người dám vào mà không gõ cửa.

“Cô đang làm gì thế?” Rafen hỏi.

“Trông ta giống như đang làm gì?”

“Như là cô định làm điều gì đó ngu ngốc.”

“Ngu ngốc?” Miss Fortune hỏi lại và đặt tay lên bàn. “Chúng ta đã đổ máu và đã mất nhiều người tốt để hạ bệ Gangplank. Ta sẽ không để Đêm Thống Khổ cứ-”

“Cứ làm sao?”

“Lấy chỗ này đi,” cô chụp lấy khẩu súng và nhét chúng vào bao. “Và ngươi sẽ không ngăn cản ta.”

“Chúng tôi không ở đây để cản cô.”

Miss Fortune quay lại nhìn Rafen đang đứng trên ngưỡng cửa. Vài chục chiến binh giỏi nhất của cô đang chờ ngoài tiền sảnh, vũ trang đến tận răng với súng hỏa mai, súng lục, lựu đạn và đoản kiếm trông như vừa cướp được ở một viện bảo tàng.

“Có vẻ ngươi cũng định làm gì đó ngu ngốc,” cô nói.

“Ây,” Rafen nói rồi tiến đến bên cửa sổ mở và đóng lại. “Cô thật sự nghĩ chúng tôi sẽ để thuyền trưởng của mình đối mặt với thứ đó một mình sao?”

“Ta đã suýt chết để tiêu diệt Gangplank, và ta vẫn chưa giết hết được những kẻ từng câu kết với hắn. Ta không mong các ngươi đi cùng ta, không phải đêm nay,” Miss Fortune đứng trước đám thủ hạ và đặt tay lên báng súng bằng gỗ hồ đào. “Đây không phải cuộc chiến của các ngươi.”

“Nó sẽ rất đẫm máu đấy,” Rafen nói.

Miss Fortune hít một hơi và gật đầu.

“Rất có thể chúng ta sẽ không còn sống để thấy ánh bình minh,” cô nói, không thể ngăn được môi mình nhếch một nụ cười.

“Đây đâu phải Đêm Thống Khổ lần đầu của chúng ta, thuyền trưởng,” Rafen nói, tay gõ nhẹ lên cái đầu lâu trên chuôi kiếm. “Và tôi không tin đây sẽ là lần cuối đâu.”

Olaf đang đứng trước chiếc Nụ Hôn Mùa Đông khi ông nghe thấy tiếng la hét. Ban đầu ông mặc kệ – đó nào phải chuyện gì mới ở Bilgewater – nhưng rồi ông thấy mọi người chạy khỏi bên tàu trong sợ hãi, và bắt đầu để ý.

Họ trèo ra khỏi thuyền và chạy vào những con phố nhanh nhất có thể. Họ không ngoái lại nhìn, thậm chí không dừng chân ngay cả khi một người đồng đội trượt ngã hay rơi xuống nước.

Olaf đã thấy nhiều kẻ thua trận chạy trốn, nhưng cảnh này là một thứ gì khác. Nó là một nỗi sợ trần trụi, thứ ông chỉ từng thấy trên khuôn mặt những xác chết đông cứng dưới lòng sông giá nơi người ta đồn là Phù Thủy Băng đang trú ngụ.

Cửa chớp đóng sầm lại khắp cầu cảng và những ký hiệu trên mọi cánh cửa đều được phủ đầy bột trắng. Những cái tời to tướng đang nâng khối kiến trúc bằng gỗ làm từ nhiều thân tàu ghép lại với nhau lên cao trên vách đá.

Ông thấy tay chủ một quán ăn (bia ở đó chỉ mạnh hơn nước tiểu quỷ khổng lồ một chút) và vẫy tay gọi hắn.

“Cái gì đang diễn ra thế?” Olaf hét to.

Tay chủ quán lắc đầu và chỉ tay ra biển trước khi sập cửa. Olaf đặt răng của con Krakenwyrm xuống mặt đá của cầu cảng và quay lại nhìn xem cái đống ồn ào này là thế nào.

Đầu tiên ông nghĩ một cơn bão sắp tới, nhưng đó chỉ là một đám sương mù đen dày, đang tiến lại gần với một tốc độ phi tự nhiên và luôn biến đổi.

“À,” ông rút cây rìu ra. “Trông hứa hẹn đây.”

Tận hưởng cảm giác thoải mái của phần chuôi rìu bọc da trong bàn tay chai sần, ông tung hứng nó từ tay này qua tay kia và xoay vai để giãn gân cốt.

Màn sương đen quét qua đám thuyền ngoài xa nhất và Olaf trợn mắt khi thấy những linh hồn nhảy ra từ những cơn ác mộng tồi tệ nhất quằn quại trong đó. Một tử kỵ sĩ, thứ quái vật kết hợp giữa người và chiến mã, dẫn chúng đi cạnh một tên thần chết mang áo choàng đen thấp thoáng ngọn lửa xanh. Hai tên chúa tể của người chết này để mặc đám linh hồn khai tiệc trên bến tàu khi chúng lướt vào Bilgewater bằng vận tốc của thú săn mồi.

Olaf từng nghe người bản xứ thì thầm về thứ gì đó được gọi là Đêm Thống Khổ, ngày của diệt vọng và bóng tối, nhưng chưa từng nghĩ sẽ may mắn được đối mặt với nó cùng cây rìu trong tay.

Đám hồn ma ùa vào trong những chiến hạm, thuyền buôn và tàu hải tặc, xé nát chúng bằng nanh vuốt của mình. Vải buồm rách toạc và dây buộc bung ra như những thớ gân thối. Cột buồm gãy đổ lẫn vào nhau và vỡ tan thành từng mảnh nhỏ.

Một lũ ma gào thét bay vào trong chiếc Nụ Hôn Mùa Đông và Olaf rống lên giận dữ khi con tàu lật nghiêng và nứt ra, những tấm ván gỗ đông cứng lại trong phút chốc. Con tàu chìm nhanh như đang chất đầy đá tảng, và Olaf thấy những đồng hương Freljord bị kéo xuống nước bởi những sinh vật chân tay tái nhợt như xác chết và miệng như lưỡi câu.

“Olaf sẽ khiến các ngươi ước rằng mình cứ chết yên một chỗ đi!” ông gầm lên khi lao vút qua cầu cảng.

Đám linh hồn trồi lên từ đại dương, móng vuốt băng lạnh chém về phía ông. Cây rìu của Olaf vung lên, quét một đường vòng cung qua bầy quái. Lũ người chết rít lên khi nó bổ đôi người chúng, lưỡi rìu bằng Chân Băng còn đáng sợ hơn bất kỳ bùa phép nào.

Chúng gào rú khi chết thêm lần nữa và Olaf cất lên bài hát cho giờ khắc cuối cùng của mình mà ông đã viết bằng toàn bộ khí lực. Ca từ đơn giản nhưng có thể sánh với bất kỳ thiên hùng ca nào được các thi sĩ lang thang kể lại. Ông đã chờ đợi bao lâu để hát những lời này? Ông đã thường sợ mình sẽ không bao giờ có cơ hội đó đến mức nào?

Một màn sương mờ ảo của những cái hàm đang đớp tràn tới, những bóng ma và nhiều thứ chết chóc khác. Vết băng rạn phủ đầy lên giáp ông và bàn tay chết người của những linh hồn tham lam thiêu đốt da ông.

Nhưng trái tim của Olaf rất mạnh mẽ và nó thắp lên trong máu ngọn lửa cuồng nộ của những kẻ liều mạng. Ông rũ sạch cơn đau khi tiếp xúc với hồn ma, cảm nhận lý trí lắng xuống và giận dữ tăng dần.

Bọt máu xuất hiện hai bên mép khi ông cắn vào trong má. Ông gầm lên và vung cây rìu như một kẻ điên, không quan tâm chút nào đến đau đớn, chỉ cần biết giết chết kẻ thù.

Những kẻ đã chết rồi chẳng là gì đối với ông.

Olaf đang thu rìu lại chuẩn bị cho một cú đánh khác thì một tiếng va đập inh tai của cột kèo và rầm mái vang lên sau lưng. Ông quay lại đối mặt với kẻ thù mới xuất hiện. Một cơn bão gỗ vụn và đá trút xuống bến tàu. Những mảnh nhọn cắt qua mặt ông và những viên đá to bằng nắm đấm làm trầy hai cánh tay. Mỡ và dịch của động vật đổ xuống trong một cơn mưa tởm lợm khi tiếng rên rỉ khủng khiếp bật ra từ trong màn sương đen.

Và ông nhìn thấy nó.

Linh hồn của con Krakenwyrm sống dậy từ những gì còn sót lại của nó nơi Cảng Lò Mổ. To lớn và đầy giận dữ, những xúc tu ma quái của nó vung vẩy trong không trung và quật xuống như những tia sét do một vị thần đang phẫn nộ ném ra. Cả khu phố biến thành tàn tích chỉ trong nháy mắt và cơn cuồng nộ của Olaf càng dâng lên khi ông cuối cùng cũng gặp được một đối thủ xứng đáng để tước đi sinh mạng của ông.

Olaf giơ cao cây rìu chào đón kẻ sẽ giết mình.

“Tuyệt đẹp!” ông hét lên và lao tới sự diệt vong.

Người phụ nữ đó đẹp với đôi mắt hình trái hạnh, đôi môi đầy đặn và gò má cao đặc trưng của Demacia. Bức chân dung trên mặt dây chuyền là một tuyệt tác, nhưng nó vẫn chưa thể diễn tả được sự mạnh mẽ và quyết đoán của Senna.

Anh hiếm khi nhìn vào ảnh cô vì biết rằng mang theo nỗi buồn đau đè nặng lên trái tim thế này chỉ khiến anh yếu đi. Khổ đau là một khe nứt trên tấm áo giáp của anh. Lucian không cho phép mình cảm thấy cô đã thật sự mất đi, nên anh đóng mặt dây chuyền. Anh biết anh nên chôn nó trong cát của hang động bên dưới vách đá, nhưng anh không thể chôn ký ức về cô xuống dưới lớp đất nơi cô nằm lại.

Nỗi đau sẽ chấm dứt khi Thresh bị tiêu diệt và cái chết của Senna được báo thù.

Khi đó, và chỉ khi đó, Lucian mới có thể than khóc cho người vợ đã mất và dâng lễ vật cho Quý Bà Che Mạng.

Đã bao lâu rồi kể từ cái đêm khủng khiếp đó?

Anh thấy vực thẳm không đáy của nỗi u buồn rình rập tấn công mình và nhiều lần anh đã đập tan nó. Anh nhắc lại những gì hội đã truyền thụ, ngâm nga những câu thần chú anh và Senna đã được dạy để rũ bỏ mọi cảm xúc. Chỉ có thế anh mới đạt được sự thăng bằng giúp anh đối mặt với những nỗi kinh hoàng vượt xa mọi tưởng tượng.

Nỗi đau lắng xuống, nhưng vẫn còn đó.

Việc anh mở mặt dây chuyền ra chỉ là miễn cưỡng khi anh thấy khoảng cách giữa mình và ký ức về Senna lớn dần. Anh nhận ra mình không còn nhớ được chính xác đường cong trên khuôn mặt cô, làn da mịn màng của cô hay màu mắt cô.

Cuộc săn đuổi này càng kéo dài thì anh càng cảm thấy cô xa cách.

Lucian ngẩng đầu lên, thở một hơi dài để nhịp tim chậm lại.

Vách hang bằng đá vôi nhạt màu, khoét vào trong vách đá trên đó Bilgewater được xây nên. Nước và những cây cuốc chim bằng đá của dân bản xứ đã tạo ra bên dưới thành phố một mê cung rất ít người biết hay thậm chí ngờ là nó tồn tại. Vách hang khắc đầy những hình xoắn ốc tiếp nối nhau, những gợn sóng lăn tăn và những thứ có lẽ là những con mắt không bao giờ chớp.

Anh biết đó là biểu tượng của tôn giáo địa phương, nhưng dù ai đã tạc nên chúng thì người đó cũng không ghé thăm nơi này từ lâu rồi. Anh tìm ra nó nhờ đi theo những dấu hiệu bí mật của chính tổ chức, những dấu hiệu dẫn anh đến những nơi ẩn náu và giúp đỡ tại bất kỳ thành phố nào ở Valoran.

Chỉ có ánh sáng nhạt phản chiếu trên trần hang, nhưng khi mắt anh dõi theo những hình khắc xoắn ốc, một vầng hào quang mờ ảo phát ra từ bàn tay anh.

Hãy để em làm tấm khiên của anh.

Lucian nhìn xuống, những từ ngữ đó vang lên rõ ràng như thể cô đang đứng ngay cạnh anh.

Mặt dây chuyền lấp lánh ngọn lửa lục.

Anh quàng nó qua cổ và cầm lấy cặp súng lục ma thuật.

“Thresh,” anh thì thầm.

Đường phố Bilgewater không một bóng người. Tiếng chuông ngoài đại dương vẫn rung lên và những tiếng hét kinh hoàng vang vọng từ bên dưới. Phố Chuột hoàn toàn bị Màn Sương Đen che phủ và cơn bão gào thét đang điên cuồng tàn phá Cảng Than Khóc. Lửa cháy dọc Cầu Đổ Tề và sương mù đang leo dần lên những vách đá phía trên Bến Xám.

Người dân ở khu trên của thành phố trốn trong nhà và cầu nguyện Quý Bà Râu cho Đêm Thống Khổ sẽ bỏ qua họ, cho đau khổ sẽ rơi xuống đầu những kẻ đen đủi tội nghiệp khác.

Nến long diên hương được thắp trên mỗi cánh cửa sổ, tỏa sáng lung linh đằng sau lớp kính màn xanh lục, và rễ cây Nữ Hoàng Của Rừng Đen treo đầy trên cửa, cửa chớp và những mảnh ván được đóng đinh chặt chẽ.

“Người ta thực sự tin vào cây Nữ Hoàng?” Miss Fortune hỏi.

Rafen nhún vai, miệng anh mím chặt và mắt nheo lại để tìm kiếm những mối đe dọa trong màn sương. Anh lấy ra một đoạn rễ cây đang cháy âm ỉ từ trong áo.

“Chỉ là cô đặt niềm tin vào đâu thôi mà, phải không?”

Miss Fortune rút súng ra.

“Ta tin vào chúng và chúng ta,” cô nói. “Ngươi còn mang theo thứ gì nữa”

“TThanh đoản kiếm đã giúp tôi an toàn qua sáu Đêm Thống Khổ,” anh đáp. “Tôi đã dâng một chai rượu rum mười năm lên Quý Bà Râu và thanh kiếm này tôi mua từ một gã đã thề rằng lưỡi của nó là thép mặt trời nguyên chất nhất.”

Miss Fortune liếc nhìn thanh kiếm ở trong bao, chưa cần nhìn lưỡi kiếm cô cũng chắc chắn rằng Rafen đã bị lừa. Phần chế tác trên tấm che tay quá tệ so với tài nghệ của những thợ rèn Demecia, nhưng cô không định nói với anh ta điều đó.

“Cô thì sao?” anh hỏi.

Miss Fortune vỗ lên túi đạn.

“Tất cả đều được ngâm trong Bóng Đêm Của Myron,” cô nói đủ to để cả ba mươi người trong đoàn có thể nghe thấy. “Nếu lũ người chết muốn đánh nhau, chúng ta sẽ chiến đấu với chúng bằng chính linh hồn của chúng ta.”

Thật khó mà cười nổi trong bầu không khí ngột ngạt này, nhưng cô thấy khóe miệng vài người nhếch lên và thế là đã vượt quá sự mong đợi của cô trong một đêm như vậy.

Cô quay lại và đi xuống khu dưới của Bilgewater, bước theo những bậc thang khấp khểnh được đục vào đá núi, đi qua những cây cầu bí mật bằng dây thừng đã mục nát quá nửa và len lỏi qua những con hẻm nhiều năm chưa có người qua lại.

Cô đưa họ đến một quảng trường rộng trên bến tàu, nơi những căn nhà lụp xụp lắc lư dựa vào nhao như thể chúng đang rầm rì bàn tán. Mặt tiền mỗi ngôi nhà là một đống gỗ vụn tạp nham, và những mảnh băng đọng đầy trên đó. Gió lạnh thổi qua tường nhà chắp vá, mang theo tiếng thổn thức và gào thét từ phía xa. Những lò than rực cháy treo trên hàng trăm cây cột nối giữa các ngôi nhà tỏa ra thứ khói của những loại cỏ kỳ lạ. Những vũng nước gợn sóng với ảnh phản chiếu của những thứ không có ở đó.

Bình thường nơi đây là một khu chợ náo nhiệt, đầy những quầy hàng, những người bán rượu thịt rong, những nhà buôn, hải tặc, thợ săn tiền thưởng và đủ loại người đến từ khắp các xó xỉnh trên thế giới. Gần như tại nơi nào ở Bilgewater người ta cũng thấy được chỗ này nên Miss Fortune mới muốn tới đây.

Màn sương quấn quanh từng tấm gỗ.

Những khuôn mặt đang lau đi những giọt lệ đã đóng thành băng.

Sương và bóng tối tập hợp lại.

“Quảng Trường Rạch Túi?” Rafen nói. “Làm thế nào chúng ta đến được đây? Tôi cai quản cả chỗ này. Tôi cứ nghĩ mình biết mọi lối ra vào như bất kỳ tên trộm cao tay nào rồi chứ.”

“Không phải mọi lối đâu,” Miss Fortune nói.

Dãy nhà hai bên im lìm trong bóng tối, và cô cố chống lại sự thôi thúc ngó qua những tấm vải buồm rách nát đang bay phần phật trước lỗ cửa sổ.

“Sao cô biết đường còn tôi thì không?”

“Quý Bà Bilgewater và ta là cùng một loại người,” Miss Fortune đáp, nhìn chăm chăm vào màn sương đang ùa vào quảng trường. “Bà ta thì thầm bí mật vào tai ta như những người bạn cũ, nên ta nắm rõ mọi lối ngầm mà ngươi sẽ chẳng bao giờ biết được đâu.”

Rafen càu nhàu khi họ tiến vào quảng trường trống không.

“Giờ thì làm gì nữa?”

“Đợi,” Miss Fortune đáp khi họ đã đến trung tâm quảng trường. Cô thấy mình đang đứng ở một nơi hoàn toàn trống trải, không có gì để che chắn hay ẩn nấp.

Màn sương đen rung rinh, sâu trong đó có nhiều thứ đang chuyển động.

Một cái đầu lâu trồi ra từ bóng tối, với đôi mắt trống rỗng và hàm răng sắc nhọn. Miệng nó há rộng ngoác và phát ra một tiếng than khóc ai oán.

Miss Fortune bắn một loạt đạn xuyên qua hốc mắt của nó và cái đầu lâu biến mất trong một tiếng rít tức giận. Cô xoay cái khóa trên mỗi khẩu súng và những cơ quan khéo léo bên trong nhanh chóng nạp đạn.

Trong chốc lát, tất cả im lặng.

Rồi màn sương đen tuôn trào khi đám người chết gào thét xông vào quảng trường.

Lần thứ hai trong tối nay Olaf tiến vào trong một con Krakenwyrm đã chết. Ông vung cây rìu như một gã tiều phu điên loạn. Những xúc tu to lớn của con quái cũng không thực như màn sương, nhưng lưỡi rìu băng vẫn chặt vào nó như chặt vào xác thịt.

Đám xúc tu quật xuống nền đá của bến tàu, nhưng Olaf khá nhanh nhẹn so với vóc người to lớn của ông. Những chiến binh chậm chạp không thể sống sót nổi ở Freljord. Ông bổ cây rìu chặt phăng một đoạn xúc tu, nó dần dần biến mất sau khi bị tách khỏi thân con quái vật.

Ngay cả giữa tấm màn đỏ máu, Olaf vẫn thấy đầu con quái vật trong đám hỗn loạn những xúc tu quăng quật xung quanh ông.

Mắt nó rực cháy ngọn lửa của một linh hồn cuồng nộ.

Một liên kết cao siêu thoáng xuất hiện.

Linh hồn con quái biết ông.

Olaf bật cười vui sướng.

“Ngươi đã thấy kẻ lấy mạng ngươi và giờ chúng ta bị ràng buộc bởi cái chết!” ông gầm lên. “Nếu ngươi giết được ta, chúng ta sẽ vĩnh viễn chiến đấu trong những vùng đất vượt ngoài tầm hiểu biết của phàm nhân.”

Viễn cảnh về một cuộc chiến vĩnh hằng với một đối thủ hùng mạnh như vậy khiến cơ bắp của Olaf căng tràn sức lực. Ông lao vào miệng con thú, không quan tâm gì đến cơn đau khi đám xúc tu của con Krakenwyrm quất vào da ông còn kinh khủng hơn những cơn cuồng phong trên bờ biển Lokfar.

Ông nhảy vào không trung, rìu giương cao.

Ông nhìn thẳng vào cái chết huy hoàng.

Một xúc tu quấn quanh đùi ông.

Nó nhấc bổng ông lên và quay tít trong không khí.

“Đi nào!” Olaf thét vang, giơ cây rìu lên trời để đón chào định mệnh. “Tới cái chết!”

Một sinh vật như bóng ma với móng vuốt quắp chặt và cái miệng đầy răng nanh lao ra từ đám linh hồn. Miss Fortune tặng cho nó một viên đạn và nó tan biến như làn khói trước gió.

Thêm một phát nữa và lại một linh hồn tan biến.

Cô nấp vào thay đạn sau một cây cọc đá hình Vua Sông đã trải qua nhiều mưa nắng. Cô rướn lên và hôn vào nụ cười đầy răng của nó.

Quan trọng là người ta đặt niềm tin vào đâu.

Thần thánh, những viên đạn hay kỹ năng của chính mình?

Nụ cười tuột khỏi gương mặt cô khi một khẩu súng rung lên với tiếng kêu ken két của kim loại. Lời quở trách của mẹ vang lên từ sâu trong ký ức của cô.

“Đó là điều xảy ra khi con để người khác trộn thuốc súng cho mình đó, Sarah,” cô nói, cho súng vào bao và rút kiếm ra khỏi vỏ. Cô đã lấy được nó từ tay thuyền trưởng con tàu Demacia đang giương buồm tiến về phương Bắc đến bờ biển Shuriman, và nó là một ví dụ hoàn hảo cho nghệ thuật chế tác mà cô chưa từng được thấy.

Miss Fortune rời chỗ nấp, xả đạn và chém vào đám sinh vật sương mù. Phát bắn của cô tiêu diệt thêm một con ma nữa và lưỡi kiếm như cắt qua xương thịt thực sự. Những linh hồn này cũng có một phần thực chất có thể bị tổn thương sao? Hình như không đúng lắm, nhưng quả thật cô đã làm thứ gì đó bên trong chúng bị thương.

Cô không có nhiều thời gian để nghĩ ngợi về chuyện này.

Mọi người thét lên khi cơn bão linh hồn đổ vào Quảng Trường Rạch Túi, những móng vuốt vung lên khiến máu họ đông cứng lại hoặc vươn đến lồng ngực và móc tim họ ra trong nỗi kinh hoàng. Sáu bảy người đã chết, có khi còn nhiều hơn. Đội của cô vẫn đang chiến đấu với kiếm và súng, hét vang tên Quý Bà Râu, những người họ yêu thương và thậm chí cả những vị thần ngoại đạo từ những vùng xa xôi.

Gì cũng được, Miss Fortune nghĩ.

Rafen quỳ xuống trên một chân, mặt tái mét, thở hổn hển như một tay khuân vác sau một ca làm dài. Sương phủ lên anh ta như mạng nhện và khúc rẽ cây đang cháy âm ỉ quanh cổ anh ta rực lên màu đỏ.

“Đứng lên, cuộc chiến chưa kết thúc đâu!” cô nói.

“Đừng có bảo tôi là cuộc chiến chưa kết thúc,” anh gắt lên và gượng đứng dậy. “Tôi đã trải qua nhiều Đêm Thống Khổ hơn là cô tưởng đấy.”

Trước khi Miss Fortune có thể hỏi con số chính xác, ông đã nhoài người sang bên và bắn vào thứ gì đó đằng sau cô. Một hồn ma chắp nối giữa sói và dơi rít lên khi nó bị hất văng đi, và Miss Fortune đáp trả bằng cách hạ gục một linh hồn đầy móc và răng ập tới phía sau vị phó chỉ huy.

“Mọi người nằm xuống!” Miss Fortune quát to, rút ra hai quả lựu đạn từ thắt lưng và ném nó vào giữa màn sương.

Chúng nổ tung. Gỗ và đá vụn văng rào rào. Kính vỡ tan và rơi xuống như một cơn mưa lấp lánh. Đám khói cay sè tràn ngập quảng trường, nhưng đó là thứ nhân tạo và hoàn toàn chẳng liên quan gì đến lũ hồn ma.

Rafen lắc đầu và ngoáy ngoáy tai.

“Trong quả bom đó có gì đấy?”

“Thuốc Nổ Đen trộn với tinh chất nhựa copal và cửu lý hương,” Miss Fortune đáp. “Một trong những vũ khí bí mật của ta.”

“Những thứ như thế có tác dụng với kẻ chết không?”

“Mẹ ta tin là có,” cô nói.

“Với tôi thế là đủ rồi,” Rafen cười nhăn nhở. “Cô biết đến, chúng ta chắc cũng xong rồi-”

“Đừng nói thế,” Miss Fortune cảnh cáo.

Màn sương bắt đầu tụ lại, mới đầu chỉ là từng đám nhỏ, sau đó hiện lên những con quái vật; những thứ hỗn hợp từ chân, hàm đầy răng nanh và cánh tay với tận cùng móc hoặc kẹp. Những linh hồn họ nghĩ mình đã giết được.

Tụ lại, sống lại.

Người ta đã nói gì về những kế hoạch nhỉ?

“Hóa ra lũ người chết cũng khó giết đấy,” Miss Fortune đáp và cố gắng không để lộ nỗi sợ hãi.

Cô thật ngây thơ khi nghĩ mấy món nữ trang rẻ tiền và niềm tin mù quáng là đủ để đối mặt với những linh hồn. Cô muốn cho người dân Bilgewater thấy rằng họ không cần Gangplank, rằng họ có thể tự tạo nên số mệnh của mình.

Thế mà, cô lại sắp khiến mình bị giết và để thành phố bị chia năm sẻ bảy.

Một tiếng ầm ầm vang lên ngoài quảng trường. Rồi một tiếng khác.

Tiếng sấm mở màn cho cơn bão.

Nó to dần thành tiếng búa nện trên đe, ngày một nhanh hơn và mạnh hơn đến khi mặt đất rung lên như trong cơn địa chấn.

“Cái thứ quái quỷ gì vậy?” Rafen nói.

“Ta không biết,” Miss Fortune nói khi bóng một kỵ sĩ ma trong bộ giáp đen như đêm tối bước ra từ màn sương. Hắn ngồi trên một con chiến mã hùng tráng và mũ giáp trên đầu có hình như một con quỷ.

“Tử kỵ sĩ,” Miss Fortune nói.

Rafen lắc đầu, mặt không còn chút máu.

“Không phải kỵ sĩ,” ông run giọng. “Đó là Bóng Ma Chiến Tranh…”

Nỗi sợ tràn qua đoàn quân của Miss Fortune khi nhắc đến cơn ác mộng vĩnh hằng của thịnh nộ và cuồng loạn.

Bóng Ma Chiến Tranh.

Tên hắn từng là Hecarim, nhưng không ai biết điều đó là thật hay chỉ là do mấy tay kể chuyện chế ra. Chỉ có kẻ ngốc mới dám thì thầm truyền thuyết đen tối của hắn quanh đống lửa, và thậm chí những kẻ đó cũng chỉ nói sau khi uống hết chỗ rượu rum đủ để nhấn chìm cả một chiến hạm Noxus.

Khi Bóng Ma Chiến Tranh đi ra khỏi màn sương, Miss Fortune nhận thấy hắn không chỉ là một kỵ sĩ.

Có lẽ trước đó Hecarim từng là kỵ sĩ, người và ngựa là hai thực thể tách biệt, nhưng giờ cả hai hợp lại làm một, một con quái vật khổng lồ chỉ biết đến hủy diệt.

“Chúng ở khắp nơi,” có giọng nói cất lên.

Miss Fortune đánh liều rời mắt khỏi tên nhân mã mang giáp để thấy một đàn kỵ sĩ ma xuất hiện với quầng sáng xanh trong suốt phủ quanh người. Chúng nâng giáo hoặc rút ra những thanh kiếm cùng tràn đầy hào quang tăm tối. Hecarim quét ngang thanh đao móc, trên lưỡi đao bốc lên ngọn lửa lục.

“Cô có biết đường bí mật nào ra khỏi đây không?” Rafen hỏi.

Không,” Miss Fortune nói. “Tôi muốn đánh với tên khốn này.”

“Cô muốn đánh nhau với Bóng Ma Chiến Tranh?”

Trước khi Miss Fortune kịp trả lời, một bóng người mang mũ trùm nhảy khỏi mái kho chứa thóc và đáp xuống giữa quảng trường. Anh ta chạm đất một cách duyên dáng, áo choàng tránh bão phấp phới sau lưng. Anh ta mang hai khẩu súng, nhưng không giống bất kỳ thứ vũ khí nào Miss Fortune từng thấy trên bàn của mẹ cô, một thứ kim loại màu đồng bao quanh những khúc trông như đá khắc.

Ánh sáng ngập tràn quảng trường khi anh ta bắn ra một tràng những quầng lửa rực rỡ đủ để làm lu mờ vụ nổ ở Vũng Tử Thần. Người đàn ông di chuyển theo hình xoắn ốc, ngắm mục tiêu và hạ gục chúng bằng động tác nhanh như roi quất. Màn sương cháy lên khi bị quầng lửa bắn trúng, và đám hồn ma gào thét như đang bị thiêu đốt.

Màn sương lùi khỏi Quảng Trường Rạch Túi, mang theo Hecarim và đám kỵ sĩ tử thần. Có gì đó nhắc nhở Miss Fortune đây chỉ là sự rút lui tạm thời.

Người đàn ông cho súng vào bao và quay lại nhìn Miss Fortune, anh ta bỏ mũ trùm ra để lộ khuôn mặt sẫm màu điển trai cùng cặp mắt ám ảnh.

“Chúng là bóng tối,” anh nói. “Đem đến đủ ánh sáng và chúng sẽ biến mất.”

Olaf chẳng vui vẻ gì với cái chết này.

Ông hy vọng mọi người sẽ nói về trận chiến hào hùng của ông với con Krakenwyrm, chứ không phải chết trong nhục nhã thế này.

Ông hy vọng có người sẽ nhìn thấy ông xông vào con thủy quái.

Ông cầu nguyện rằng ít nhất cũng có một người chứng kiến cảnh ông bị cái xúc tu nhấc lên không trung, rồi bỏ chạy trước khi thấy ông bị ném văng đi như một mẩu rác.

Olaf rơi xuyên qua mái một căn nhà nằm bên rìa vách đá. Hình như đó là một xác tàu? Ông rơi quá nhanh để kịp nhận ra. Gỗ vụn và đất nung trút ào ào xuống đầu khi ông trượt dài qua căn nhà. Ông liếc nhìn trong kinh ngạc khi những gương mặt đang gào thét lướt qua ông.

Olaf đập mạnh vào một tầng nhà. Một cây xà đỡ văng theo khi ông ngã xuống vách đá của Bilgewater. Ông va vào một tảng đá nhô ra và đâm đầu qua cánh cửa sổ để mở, lại rơi xuyên qua một tầng nhà nữa.

Những câu nguyền rủa giận dữ bật ra khỏi miệng ông.

Ông rơi vào giữa một rừng dây nhợ và ròng rọc, cờ quạt và thòng lọng. Người ông bầm dập, chân tay và vũ khí mắc trong đám lộn xộn. Số phận lại trêu ngươi ông, quấn ông trong một tấm vải buồm lùng nhùng.

“Không phải thế này, quỷ tha ma bắt!” ông gầm lên. “Không phải thế này!”

“Anh là ai và tôi có thể kiếm những khẩu súng như thế kia ở đâu?” Miss Fortune nói, chìa tay ra cho người mới tới.

“Tôi là Lucian,” anh ta nói, cảnh giác bắt tay cô.

“Thật mừng khi được biết anh, anh bạn,” Rafen nói, vỗ lưng anh ta như một người đồng đội cũ. Miss Fortune thấy sự thân mật của Rafen khiến Lucian không thoải mái, như thể anh ta đã quên cách xử sự với người khác.

Ánh mắt anh quét qua rìa quảng trường, ngón tay nhảy múa trên báng súng.

“Anh có đôi mắt tinh tường đấy, Lucian,” Miss Fortune nói.

“Chúng ta nên đi.” anh nói. “Bóng Ma Chiến Tranh sẽ quay lại.”

“Anh ta nói đúng,” Rafen nhìn cô cầu khẩn. “Đến lúc vào trong và đóng cửa lại rồi.”

“Không. Chúng ta ra đây để chiến đấu.”

“Nghe này, tôi hiểu, Sarah. Chúng ta giành được Bilgewater và cô cần chiến đấu để giữ nó, để cho mọi người thấy cô còn mạnh hơn Gangplank. Chà, cô đã làm được rồi. Chúng ta đã tiến vào Màn Sương Đen và chúng ta đã đánh với người chết. Thế còn hơn tất cả những gì hắn ta từng làm. Bất kỳ ai dám liều nhìn ra ngoài cửa sổ đều biết điều đó. Quỷ thật, ngay cả những ai không nhìn ra ngoài thì cũng nghe thấy tiếng. Cô còn muốn gì nữa?”

“Chiến đấu vì Bilgewater.”

“Có chiến đấu vì Bilgewater và có chết vì Bilgewater,” Rafen nói. “Tôi hoàn toàn đồng ý với cái thứ nhất, nhưng không thích cái thứ hai lắm. Những người này đã theo cô vào địa ngục, giờ đã đến lúc quay lại rồi.”

Miss Fortune quay lại đối diện với đội chiến binh của cô, ai nấy đều tả tơi, một người đã chết. Họ đều là những kẻ bán mạng vì tiền, nhưng họ đã làm mọi việc cô đòi hỏi, thậm chí còn hơn thế. Đâm đầu vào Màn Sương Đen có lẽ là việc dũng cảm nhất họ từng làm và cô không thể trả công họ bằng việc dẫn họ đến cái chết chỉ để thỏa mãn ý muốn báo thù của mình.

“Ông nói đúng,” cô thở dài. “Chúng ta xong việc ở đây rồi.”

“Thế thì hy vọng vận may sẽ đi theo cô,” Lucian nói, anh quay đi và rút cặp súng kỳ lạ ra.

“Chờ đã,” Miss Fortune gọi. “Đi cùng chúng tôi đi.”

Lucian lắc đầu. “Không, có một tên ác ma tôi cần phải tiêu diệt. Hắn tên là Thresh, Cai Ngục Xiềng Xích. Tôi nợ hắn cái chết.”

Miss Fortune thấy mắt Lucian tối sầm lại và nhận ra những cảm xúc cô từng có khi mẹ mình bị sát hại.

“Hắn đã cướp đi người thân của anh sao?” cô hỏi.

Lucian gật đầu, rồi không nói gì nữa, nhưng sự im lặng của anh đã nói lên nhiều điều.

“Đây không phải lần đầu anh chiến đấu với kẻ chết,” cô nói, “nhưng anh sẽ không qua nổi đêm nay nếu ờ ngoài này một mình. Tôi chắc điều này chẳng có ý nghĩa gì với anh, nhưng dù Thresh đã cướp đi ai đó của anh, người ấy cũng không muốn anh phải chết ở đây.”

Lucian cúi đầu, và Miss Fortune thấy một mặt dây chuyền bạc hiện ra trên cổ anh. Chỉ là cô tưởng tượng hay là màn sương đã khiến nó lung linh huyền ảo dưới ánh trăng?

“Đi cùng chúng tôi,” Miss Fortune nói. “Tìm nơi nào đó an toàn đến sáng và anh sẽ được sống để làm những gì anh muốn.”

“An toàn? Nơi nào an toàn trong thành phố này chứ?” Lucian hỏi.

“Tôi nghĩ tôi biết một chỗ,” Miss Fortune đáp.

Họ rời Quảng Trường Rạch Túi và đi về phía Tây đến Cầu Mãng Xà. Tại đó họ thấy một người Freljord. Ông bị trói trên cột như cái xác chết treo quấn vải liệm. Tuy nhiên, không giống những cái xác khác, người này vùng vẫy như một con cá mắc cạn.

Một đống đổ nát vương vãi xung quanh ông, và Miss Fortune ngước lên để xem ông đã rơi từ tận đâu xuống những căn nhà bên sườn vách đá thế này.

Một quãng đường dài, và việc ông còn sống đúng là một phép màu.

Lucian nâng súng lên, nhưng cô lắc đầu.

“Không, người này vẫn còn sống.”

Những tiếng kêu ú ớ vang lên trong tấm màn, những câu chửi thề đủ khiến một người bị đánh chết ở nhiều vùng đất khác, hét ra bởi một giọng Freljord không thể lẫn vào đâu được.

Cô đặt đầu mũi kiếm lên tấm màn và rạch một đường. Như một con thủy quái chui ra khỏi bụng mẹ, một người đàn ông khổng lồ râu ria xồm xoàm lăn xuống nền sỏi. Mùi cá ươn và rác rưởi bám đầy trên người ông.

Ông loạng choạng đứng dậy, vung vẩy cây rìu có lưỡi làm bằng một mảnh băng như kim cương.

“Đường nào đến Cảng Lò Mổ?” ông nói bằng giọng lè nhè của một kẻ say. Ông nhìn quanh, bối rối, đầu đầy vết sưng và bầm tím.

“Bình thường thì tôi sẽ bảo ông đi theo cái mũi của mình,” Miss Fortune đáp, “nhưng tôi sẽ ngạc nhiêu nếu ông còn ngửi thấy cái gì đấy.”

“Ta sẽ giết con Krakenwyrm đó mười lần nếu cần phải làm thế,” ông nói. “Ta nợ nó cái chết.”

“Tối nay có nhiều chuyện xảy ra thật,” Miss Fortune nói.

Người Freljord đó tự gọi mình là Olaf, một chiến binh phục vụ bà chủ chân chính của băng tuyết, và sau khi qua cơn chấn động, ông tuyên bố mình sẽ đi cùng họ đến khi ông có thể chiến đấu với hồn ma nguy hiểm nhất trong Màn Sương Đen.

“Ông muốn chết à?” Lucian hỏi.

“Tất nhiên,” Olaf đáp như thể đó là một câu hỏi cực kỳ ngu ngốc. “Ta tìm kiếm một kết thúc đáng đi vào truyền thuyết.”

Miss Fortune để mặc tên khùng đó với những giấc mơ về cái chết của ông ta. Chừng nào ông ta còn vung cây rìu vào đúng kẻ thù, ông ta còn được chào đón trong đoàn của cô.

Ba lần màn sương lại gần họ, và mỗi lần nó đều lấy đi một linh hồn bất hạnh. Những tiếng cười đầy thù hận vọng lại từ hai bên hông nhà, nghe như tiếng đá mài trên thép gỉ. Đàn chim ma cất tiếng kêu trên mái, chờ đợi một bữa dạ tiệc xác thối dưới ánh trăng. Ánh sáng mời gọi nhảy múa trong bóng đêm của màn sương, như ánh lửa ma trơi giữa vùng đầm lầy tăm tối.

“Đừng nhìn vào chúng,” Lucian nói.

Lời cảnh báo của anh đến quá trễ với một người đàn ông và vợ anh ta. Miss Fortune không biết tên họ, nhưng cô biết họ đã mất con trai vì dịch bệnh gần một năm trước. Họ đi ra mép vách đá, bị dẫn dắt bởi một hình ảnh mà chỉ họ mới thấy.

Một người khác cắm bàn tay gắn móc vào cổ họng trước khi bạn bè của ông ta kịp ngăn cản, người khác thì chỉ đơn giản là tan biến trong màn sương mà không ai nhận ra.

Lúc họ đến được Cầu Mãng Xà, cả đoàn chỉ còn lại gần một tá. Miss Fortune không thể thấy tiếc cho họ, cô đã bảo họ đừng đi cùng cô. Nếu họ muốn sống, đáng ra họ phải ẩn mình trong nhà cùng những hình khắc bảo hộ, những lá bùa xoắn ốc của Quý Bà Râu và cầu nguyện bất cứ thứ gì mang lại cho họ sự khuây khỏa.

Nhưng trong Đêm Thống Khổ, ngay cả điều đó cũng không đảm bảo cho họ an toàn.

Họ đi qua không biết bao ngôi nhà bị phá tung, cửa chớp vỡ tan tành và cửa ra vào treo lủng lẳng trên bản lề. Miss Fortune giữ ánh mắt nhìn thẳng, nhưng cô không thể không cảm thấy ánh nhìn oán hận của những khuôn mặt lạnh như băng bên trong cũng như sự kinh hoàng trong thời khắc cuối cùng của họ.

“Màn Sương Đen sẽ lấy những gì nó cần,” Rafen nói khi họ đi qua một ngôi nhà hoang tàn khác, người sống trong đó đã chết cứng từ bao giờ.

Cô thật muốn nổi giận trước thái độ chấp nhận một cách thờ ơ đến vậy, nhưng làm thế thì được gì chứ? Rốt cuộc anh ta vẫn đúng.

Thay vào đó, cô tập trung vào đường nét mờ ảo của tòa kiến trúc bên kia cầu. Nó nằm giữa một cái hố khoét vào trong vách núi, giống như một sinh vật biển khổng lồ nào đã ngoạm vào đá một miếng lớn. Tương tự nhiều nơi khác ở Bilgewater, nó được xây nên từ những gì biển để lại. Tường bằng gỗ trôi dạt và cành cây đến từ những vùng đất xa xôi, cửa sổ là xác tàu được trục vớt từ dưới đáy biển. Không có một đường thẳng nào trong cả công trình này. Những góc cạnh kỳ cục đem đến cho người ta cảm giác nó đang chuyển động, như thể một ngày nào đó nó sẽ chọn một nơi khác để đặt xuống đó nền móng tạm thời của mình.

Phần chóp nhọn của nó cũng cong và có rãnh như sừng kỳ lân biển, trên đỉnh chóp là ký hiệu xoắn ốc giống với thứ Miss Fortune đang đeo trên cổ. Ánh sáng mờ ảo viền quanh biểu tượng đó, ngăn bóng tối lại gần.

“Đây là đâu?” Lucian hỏi.

“Đền Thờ Quý Bà Râu,” cô đáp. “Ngôi Nhà Của Nagakabouros.”

“An toàn chứ?”

“An toàn hơn là ở ngoài này.”

Lucian gật đầu vào họ bước dọc theo cây cầu. Y hệt ngôi đền nó dẫn tới, cây cầu cũng chẳng có chút cân xứng, bề mặt cầu nhấp nhô dưới chân họ như một vật sống.

Rafen ngừng lại và ngó xuống.

“Mỗi năm lại một cao hơn,” anh nhận xét.

Miss Fortune miễn cưỡng đến cạnh anh và nhìn qua thành cầu.

Khu cảng và Phố Chuột hoàn toàn bị Màn Sương Đen phủ kín. Bilgewater ngạt thở giữa vòng kìm kẹp của màn sương, những xúc tu của nó luồn sâu hơn vào trong thành phố. Tiếng thét sợ hãi vọng lên tận trên, mỗi tiếng thét lại báo hiệu một sinh mạng vừa kết thúc và một linh hồn vừa gia nhập quân đoàn xác chết.

Rafen nhún vai. “Vài năm nữa thôi là không còn chỗ nào ở Bilgewater cao hơn nơi này được nữa.”

“Nhiều chuyện có thể xảy ra trong vài năm nữa,” Miss Fortune nói.

“Năm nào chuyện này cũng xảy ra à?” Olaf hỏi, một chân đặt lên mép cầu, không chút để ý đến việc mình sẽ bị trượt chân ngã xuống.

Miss Fortune gật đầu.

“Tuyệt vời,” người Freljord reo lên. “Nếu số phận không cho ta chết đêm nay, ta sẽ quay lại đây khi Màn Sương Đen trỗi dậy lần nữa.”

“Đó sẽ là tang lễ của ông,” Rafen nói.

“Cảm ơn,” Olaf vừa nói vừa vỗ bàn tay to bè của mình vào lưng Rafen, suýt nữa hất anh văng ra khỏi cầu. Mắt người Freljord trợn lên khi một đám xúc tu trồi ra khỏi màn sương, vươn dài và quật xuống những mái nhà của Phố Chuột.

“Con quái!” ông hét lên.

Và trước khi có ai kịp ngăn cản, ông đã leo lên thành cầu và nhảy xuống.

“Đồ điên,” Rafen nói khi bóng Olaf nhỏ dần rồi biến mất trong màn sương bên dưới.

“Những kẻ sống ở vùng băng giá đều điên cả,” Miss Fortune đáp. “Nhưng ông ta điên hơn tất cả những người ta từng gặp.”

“Đưa mọi người vào trong đi,” Lucian nói.

Cô nghe được sự cấp bách trong giọng nói của anh và quay lại nhìn thấy anh đang đứng đối diện một bóng ma cao lớn khoác trên mình bộ áo choàng đen và những xiềng xích có móc nhọn. Ánh sáng xanh bệnh hoạn cuộn lên khi nó đung đưa cây đèn lồng trên bàn tay vàng vọt. Nỗi sợ dâng trào trong lòng Miss Fortune, một nỗi sợ cô chưa từng biết đến kể từ cái ngày cô chứng kiến mẹ mình bị giết và phải nhìn thẳng vào nòng súng của tên sát nhân.

Lucian rút súng ra. “Thresh là của tôi.”

“Hắn là của anh đó,” cô gật đầu và quay đi.

Luồng mắt cô bị hút vào những bóng đen đang tiến lại gần phía trên ngôi đền. Cổ họng cô nghẹn lại khi thấy Hecarim cũng đội kỵ sĩ tử thần của hắn xuất hiện trên đỉnh dốc.

Bóng Ma Chiến Tranh giương cao thanh đao rực cháy và đám kỵ sĩ ma thúc chiến mã lao xuống. Không người thường nào có thể làm như vậy, nhưng chúng là những kỵ sĩ của thần chết.

“Chạy!” Miss Fortune hét lên.

Phía cuối cây cầu dày đặc ánh sáng xanh độc địa. Cai Ngục Xiềng Xích giấu bộ mặt như xác chết của mình bên dưới mũ trùm đầu, nhưng ngọn đèn lồng mờ tỏ chiếu vào đống tàn tích của thịt rữa, hốc hác và mất hết mọi cảm xúc trừ một niềm vui tàn nhẫn.

Hắn di chuyển nhẹ nhàng như tất cả những tên đồng loại khác, và những tiếng rền rĩ đau đớn vọng ra từ trong lớp áo choàng theo mỗi bước đi. Thresh ngẩng đầu lên, và Lucian thấy hàm răng nhọn hoắt nhe ra trong một nụ cười mong đợi.

“Phàm nhân,” Thresh dài giọng để cái từ đó lăn quanh miệng như một viên kẹo.

Lucian quỳ xuống, nhẩm lại câu thần chú khai sáng để tôi luyện linh hồn mình cho trận chiến sắp tới. Anh đã chuẩn bị cho giờ phút này cả nghìn lần, và giờ đã đến lúc. Môi anh khô lại, lòng bàn tay nhớp nháp mồ hôi.

“Ngươi đã giết Senna,” anh ngẩng đầu lên nói. “Người duy nhất ta còn lại trên thế giới này.”

“Senna…?” Thresh hỏi lại bằng giọng nghèn nghẹn như thể nó phát ra từ một cái cổ họng từng bị thòng lọng treo cổ xiết nát.

“Vợ ta,” Lucian đáp. Anh biết mình không nên nói, anh biết mỗi lời nói là một thứ vũ khí tên ác ma kia sẽ dùng để chống lại anh. Nước mắt che mờ tầm nhìn của anh khi nỗi buồn khổ cuốn đi mọi sự chuẩn bị và mọi lý tính còn sót lại. Anh nâng sợi dây chuyền bạc đeo trên cổ lên và mở nó ra. Anh cần phải cho tên ác ma kia hiểu được những mất mát của anh to lớn đến nhường nào.

Thresh cười, hàm răng như những mũi kim lóe sáng khi hắn gõ một móng tay vàng khè lên lồng kính của cây đèn.

“Ta nhớ rồi,” hắn nói. “Một linh hồn đầy sức sống. Đến giờ vẫn chưa khô cằn và lạnh lẽo. Đau đớn vì hành hạ. Hy vọng một cuộc sống mới. Chúng bùng lên trong người cô ta. Tươi mới như một đóa hoa mùa xuân. Thật quá dễ dàng để lừa gạt và hủy hoại nó bằng ảo mộng.”

Lucian nâng súng lên.

“Nếu ngươi nhớ cô ấy, thì ngươi cũng sẽ nhớ những cái này,” anh nói.

Nụ cười đầy răng chưa hề nhạt đi dưới cái mũ trùm đầu rách nát.

“Vũ khí của ánh sáng,” hắn nói.

“Và ánh sáng luôn là tai ương của bóng tối,” Lucian tiếp lời, dồn mọi hận thù vào cặp súng thiêng.

“Chờ đã,” Thresh nói, nhưng Lucian không thể chờ đợi thêm nữa.

Anh bắn ra hai phát súng lóa mắt.

Một quầng lửa thanh tẩy nuốt chửng Cai Ngục Xiềng Xích và tiếng kêu gào của hắn vang lên trong tai Lucian như giai điệu một bản nhạc.

Nhưng rồi nó biến thành một tiếng cười khùng khục.

Một vòng hào quang tăm tối nhạt dần quanh người Thresh trước khi bị hút vào trong cây đèn lồng, để lại hắn đứng đó, hoàn toàn không bị lửa làm tổn thương.

Lucian tiếp tục bắn, một cơn bão những luồng sáng chói lòa. Tất cả đều trúng, nhưng tất cả đều vô dụng. Mỗi phát bắn đều tan biến một cách vô hại trước màn sương năng lượng hắc ám của cây đèn lồng.

“Phải, ta nhớ những thứ vũ khí này,” tên ác ma nói. “Ta đã moi ra bí mật của chúng từ tâm trí cô ta.”

Lucian sững người lại.

“Ngươi vừa nói gì?”

Thresh bật ra một tiếng cười khò khè.

“Ngươi không biết sao? Sau tất cả những gì ngươi biết về ta, ngươi chưa từng nghi ngờ sao?”

Lucian thấy cái lạnh của nỗi sợ trào lên trong bụng. Một nỗi sợ có thể khiến anh phát điên.

“Cô ta không chết,” Thresh nói tiếp, giơ cao cây đèn lồng.

Lucian thấy những linh hồn bị giày vò xoáy tròn trong đó.

Thresh nhe răng cười. “Ta rút linh hồn cô ta ra và giữ nó.”

“Không…” Lucian kêu lên. “Ta đã thấy cô ấy chết.”

“Cô ta vẫn gào thét bên trong này đây,” vừa nói Thresh vừa tiến lại gần. “Mỗi giờ khắc tồn tại của cô ta đều là nỗi đau đớn ngọt ngào. Hãy nghe đi…có nghe thấy tiếng cô ta không?”

“Không,” Lucian khuỵu xuống thổn thức. Cặp súng lục đập xuống mặt đá của cầu kêu lách cách.

Thresh đi xung quanh anh, xiềng xích uốn éo trườn ra từ thắt lưng và quấn lên người Lucian. Những cái móc cắt vào trong áo choàng, tìm kiếm thịt mềm đằng sau lớp vải.

“Hy vọng là điểm yếu của cô ta. Tình yêu là sai lầm của cô ta.”

Lucian nhìn lên khuôn mặt mục nát của Thresh.

Đôi mắt hắn trống rỗng, một hố đen dẫn tới hư vô.

Dù Thresh từng là cái gì thì nó cũng đã hoàn toàn biến mất rồi. Không có lòng trắc ẩn, không có sự khoan dung, và không có nhân tính.

“Tất cả đều là chết chóc và khổ đau, phàm nhân,” Cai Ngục Xiềng Xích đặt tay lên cổ Lucian. “Không cần biết ngươi chạy đến đâu, thứ duy nhất ngươi còn lại là cái chết. Nhưng trước lúc đó, còn có ta.”

Miss Fortune thở dốc khi cô chạy đến ngôi đên. Phổi cô gắng sức để hô hấp, và mạch máu thì như bị đóng băng. Màn sương đã chạm đến chân ngôi đền ẩn hiện sự xuất hiện của hai lãnh chúa tử thần. Chớp sáng lóe lên sau lưng cô, nhưng cô không nhìn lại. Cô nghe thấy tiếng vó ngựa như sấm sét gõ lên đá, những tia lửa tóe ra trong bóng tối.

Cô hình dung hơi thở của con chiến mã phả vào gáy cô.

Khoảng trống giữa hai vai cô cháy bỏng lên khi nghĩ đến cảnh ngọn giáo ma đâm xuyên qua người.

Chờ đã, sao chúng có thể làm thế nếu chúng là ma?

Ý nghĩ ngớ ngẩn đó khiến cô bật cười, và cô vẫn không ngừng cười khi đâm sầm vào cánh cửa đền bằng gỗ. Rafen và những người khác đã ở đó, đang đập cửa không ngừng.

“Nhân danh Quý Bà Râu, cho chúng tôi vào!” anh ta hét lên.

Anh ngước lên khi Miss Fortune bước đến.

“Cửa khóa rồi,” anh nói.

“Ta biết,” cô thở hổn hển, giật tung lá bùa Illaoi đã đưa cho cô. Cô đặt tay lên cửa ấn mạnh lớp san hô vào gỗ.

“Illaoi!” cô nói to. “Tôi sẵn sàng giẫm lên cổ con cá chình quái quỷ đó rồi. Giờ mở cái cửa chết tiệt này ra!”

“Cá chình?” Rafen ngạc nhiên. “Cá chình nào? Cô đang nói cái gì thế?”

“Đừng bận tâm,” cô gắt lên, đập liên hồi bàn tay đầy máu lên cửa. “Tôi nghĩ nó là một kiểu ẩn dụ gì đó.”

Cánh cửa bật tung ra như thể nó chưa hề được cài then. Miss Fortune lùi lại để người của cô đi trước rồi chợt quay người lại.

Hecarim xông đến và bổ thanh đao xuống đầu cô.

Một bàn tay nắm lấy cổ áo cô và lôi về phía sau. Lưỡi đao sượt qua cổ cô, cách có một phân.

Cô thấy sau lưng nặng trĩu.

Illaoi đứng trên ngưỡng cửa, viên đá của bà ta giơ trước người như một tấm khiên. Sương trắng bám quanh nó.

“Người chết không được chào đón ở đây,” bà nói.

Rafen và những người khác đóng cửa lại và hạ xuống một thanh chắn nặng nề bằng gỗ sồi, cài vào những cái móc rỉ sét ở hai bên. Có thứ gì đó tông mạnh vào cửa.

Gỗ nứt ra và những mảnh vụn văng tung tóe.

Illaoi quay lại và bước lại chỗ Miss Fortune, vẫn đang nằm dài trên sàn khảm đầy vỏ sò và đất sét.

“Ta phải lấy đi khoảng thời gian ngọt ngào này của cô rồi, cô gái,” bà ta nói khi kéo Miss Fortune đứng dậy. Trong đền có ít nhất là hai trăm người. Cô thấy đủ loại người ở Bilgewater: dân bản xứ, hải tặc, thương nhân và thủy thủ, cùng với những khách lữ hành kém may mắn hoặc không đủ khôn ngoan để kiếm một chỗ ngủ cách xa Đêm Thống Khổ.

“Cái cửa liệu có trụ được không?” cô hỏi.

“Có hoặc không,” Illaoi đáp, bà ta hướng đến một bức tượng đầy xúc tu ở cuối điện thờ. Miss Fortune cố nắm bắt ý nghĩa của nó, nhưng đành bỏ cuộc khi mắt cô lạc lối giữa một rừng xoắn ốc và đường cong.

“Đó không phải một câu trả lời.”

“Đó là câu trả lời duy nhất ta có,” Illaoi đặt viên đá vào một cái hõm trong bức tượng và ngồi xuống, đập tay lên đùi và ngực theo một nhịp điệu kỳ quái. Những người trong đền làm theo bà, vỗ tay vào da trần, giậm chân và nói bằng thứ ngôn ngữ cô không hiểu.

“Họ đang làm gì thế?”

“Đem lại cho thế giới này một vài chuyển động,” Illaoi đáp. “Nhưng chúng tôi cần thời gian.”

“Các người sẽ có nó,” Miss Fortune hứa.

Lucian thấy những cái móc cắm sâu vào thịt. Lạnh lẽo hơn cả băng giá phương Bắc và đau đớn hơn gấp đôi. Tay của Cai Ngục Xiềng Xích xiết quanh cổ anh, làn da anh bỏng rát khi nó chạm vào. Anh thấy sức lực bị rút đi, nhịp tim chậm lại.

Thresh nhấc bổng anh lên và giơ cao cây đèn lồng, sẵn sàng đón nhận linh hồn anh. Những đốm sáng đang rên rỉ trong đó cuộn xoáy vì kích động, những gương mặt và bàn tay áp vào lớp kính.

“Ta đã tìm kiếm linh hồn ngươi từ lâu, thợ săn bóng tối,” Thresh nói. “Nhưng giờ mới là đúng lúc để chiếm lấy nó.”

Mắt Lucian mờ đi, anh thấy linh hồn mình bị lột khỏi cơ thể. Anh vùng vẫy để giữ nó lại, nhưng Cai Ngục Xiềng Xích đã thu thập linh hồn từ hàng ngàn đời nay và biết rõ kỹ thuật đó hơn bất kỳ ai.

“Cố nữa đi,” Thresh nói trong niềm vui thích bệnh hoạn. “Linh hồn của ngươi sẽ cháy sáng hơn khi ngươi chống lại.”

Lucian cố nói điều gì, nhưng không lời nào thoát ra được khỏi miệng, chỉ có một hơi thở nhẹ ấm áp mang theo linh hồn anh.

Một lưỡi hái sáng lấp lánh trôi nổi trên khoảng không phía trên Lucian, một thứ vũ khí chết chóc cho các linh hồn. Lưỡi hái run lên vì mong đợi.

Lucian…

Giọng nói đó. Giọng nói của cô.

Tình yêu của em….

Lưỡi hái tử thần của Thresh xoay qua xoay lại, tìm một góc thích hợp để cắt linh hồn ra khỏi thể xác.

Lucian lấy lại hơi thở khi anh thấy một gương mặt xuất hiện trong lồng đèn. Một gương mặt giữa hàng ngàn gương mặt khác, nhưng gương mặt đó lại có nhiều động lực hơn bất kỳ ai để chen lên trước.

Đôi môi đầy đặn, đôi mắt hình trái hạnh, van nài anh hãy sống.

“Senna…” Lucian hổn hển.

Hãy để em làm tấm khiên cho anh.

Trong thoáng chốc, anh hiểu điều có muốn nói.

Liên kết giữa họ mạnh mẽ như khi họ sát cánh bên nhau săn đuổi những sinh vật của bóng đêm.

Với chút sức tàn, Lucian với tay lên mở mặt dây chuyền đeo trên cổ. Ánh bạc lấp lánh dưới trăng.

Cai Ngục Xiềng Xích thấy có gì đó không đúng và rít lên giận dữ.

Lucian còn nhanh hơn.

Anh dùng sợi dây như một cái ná, nhưng thay vì bắn ra một viên đạn chì, anh quất nó vào cánh tay đang giữ cây đèn. Trước khi Thresh có thể hất nó ra, Lucian rút mũi dùi bạc từ trong áo choàng ra và cắm ngập nó vào cổ tay con ma.

Cai Ngục Xiềng Xích gào lên đau đớn, một cảm giác hắn đã lãng quên mười nghìn năm nay. Hắn buông Lucian ra và quằn quại khi vô số linh hồn bị giam trong cây đèn lồng bất chợt tìm ra cách để đánh trả kẻ đã hành hạ họ.

Lucian cảm thấy linh hồn trở lại với thân xác và há miệng hít vào từng ngụm lớn không khí, như một người chết đuối vùng vẫy nổi lên khỏi mặt nước.

Nhanh lên, tình yêu của em. Hắn mạnh quá…

Thị giác của anh trở lại, rõ ràng hơn bao giờ hết. Lucian chộp lấy cặp súng trên mặt đất. Anh bắt lấy khoảnh khắc ngắn ngủi gương mặt Senna xuất hiện trong lồng đèn và ghim nó vào trong tim.

Gương mặt cô sẽ không bao giờ lu mờ trong ký ức của anh nữa.

“Thresh,” anh nói, nhắm kỹ cả hai khẩu súng.

Cai Ngục Xiềng Xích ngẩng lên, đôi mắt trống rỗng sáng lên cơn thịnh nộ vì sự thách thức của đám linh hồn. Hắn nhìn chằm chằm vào Lucian và giơ cây đèn lên, nhưng những linh hồn nổi loạn đã xua tan mọi sự bảo vệ nó có thể tạo ra.

Lucian bắn ra một chuỗi phát súng chính xác.

Chúng thiêu đốt lớp áo choàng của Cai Ngục Xiềng Xích và vùi thân thể ma quái của hắn trong hỏa ngục ánh sáng. Lucian bước lại phía Thresh, hai khẩu súng liên tục khạc lửa.

Gào thét trong đau đớn, Cai Ngục Xiềng Xích bỏ chạy khỏi cuộc oanh tạc không ngừng của Lucian, hắn bất lực trong việc kháng cự những vũ khí mang quyền năng cổ xưa.

“Cái chết dành cho ngươi,” Lucian nói. “Hãy chào đón nó. Đừng lo lắng, ta đảm bảo nó sẽ nhanh chóng thôi.”

Thresh thốt ra một tiếng hú cuối cùng trước khi nhảy khỏi cây cầu, rơi xuống thành phố bên dưới như một ngôi sao chổi rực cháy.

Lucian nhìn theo đến khi Màn Sương Đen nuốt chửng hắn.

Anh quỳ xuống.

“Cảm ơn, tình yêu của anh,” Lucian dịu dàng nói. “Ánh sáng của anh.”

Tường ngôi đền rung lên trước đợt tấn công dữ dội. Sương đen rỉ ra giữa những khe ván và qua những vết rạn trên kính cửa sổ. Khung cửa run rẩy. Móng vuốt của màn sương len qua thớ gỗ. Tiếng gào thét vang vọng như một cơn cuồng phong đập vào mái đền.

“Bên đó!” Miss Fortune hét to khi một đám sinh vật trong sương mù với cặp mắt đỏ rực chui qua một lỗ hổng trên bức tường từng để một dãy tủ trà từ Ionia chuyển đến.

Cô nhảy vào giữa đám hồn ma. Cứ như không mặc gì nhảy xuống một hố băng vậy. Ngay cả những cái chạm nhẹ nhất của đám người chết cũng hút cạn thân nhiệt và sự sống.

Lá bùa bằng san hô bỏng cháy nơi da cô.

Cô chém lưỡi kiếm của mình qua đám sinh vật và cảm nhận nó cắt qua chúng. Đạn của cô có thể vô dụng với đám người chết, nhưng thanh kiếm Demacia làm chúng bị tổn thương. Chúng lùi ra xa, rú rít ầm ĩ.

Người chết cũng biết sợ sao?

Dường như là có, vì chúng bỏ chạy trước lưỡi gươm sáng rực. Cô không để chúng làm thế, cô đâm và chém vào màn sương ở bất kỳ nơi nào nó định ùa vào.

“Thế đấy! Chạy đi!” cô hét to.

Một đứa nhóc la toáng lên và Miss Fortune lao vào màn sương để kéo nó lại. Cô túm lấy đứa trẻ và lăn trở lại nơi an toàn. Những móng vuốt sắc lạnh cào vào lưng cô, và Miss Fortune thở dốc khi cái lạnh tê tái lan tỏa khắp tứ chi.

Cô chém ra sau và nghe thấy tiếng kẻ chết nào đó rú lên.

Một người phụ nữ nấp sau ghế đón lấy đứa trẻ và Miss Fortune để cô ta lùi về chỗ trốn. Cô cố đứng dậy, cảm thấy mệt mỏi lan khắp cơ thể như căn bệnh truyền nhiễm.

Khắp nơi vang lên tiếng súng nổ và sắt thép chém vào nhau, những tiếng hú chết chóc và những tiếng kêu kinh hoàng.

“Sarah!” Rafen hét lên.

Cô quay lại nhìn và thấy thanh chắn bằng gỗ sồi đang nứt dọc ra. Rafen và một tá người nữa cố giữ cửa trước đợt công kích dồn dập, nhưng không ngăn được nó lõm dần vào trong. Những vết rạn xuất hiện và sương len lỏi chui qua. Một người bị nó tóm được và tiếng thét của anh ta ngưng bặt khi anh ta biến mất trong màn sương.

Cánh tay một người khác bị xé toạc khi anh ta cố gắng giúp người kia.

Rafen quay lại và đâm con dao găm qua lỗ hổng.

Bàn tay đầy móng vuốt giật thứ vũ khí vô dụng đó ra khỏi tay anh.

Một thân hình u ám lách mình qua cánh cửa đang từ từ rã nát và quơ tay vào ngực Rafen. Người chỉ huy phó gào lên đau đớn, màu sắc biến hết khỏi mặt anh.

Cô lảo đảo bước tới chỗ anh, cảm thấy sức lực của mình biến đâu mất. Lưỡi kiếm của cô chặt vào cánh tay ma, và sinh vật biến mất trong một tiếng rít. Rafen gục lên người cô, và cả hai ngã lăn ra giữa điện thờ.

Rafen thở hổn hển, khuôn mặt tái nhợt.

“Đừng chết, Rafen!” cô nghẹn ngào.

“Cần nhiều hơn là kẻ chết mới giết được tôi,” ông càu nhàu. “Chỉ là bị mấy thứ chết tiệt đánh trúng thôi mà.”

Có tiếng kính vỡ đâu đó bên trên. Đám sương đen cuộn lại bên trên thành một đống nanh vuốt và những cặp mắt đói khát.

Miss Fortune cố đứng dậy, nhưng cô hoàn toàn kiệt sức. Cô nghiến răng thất vọng. Số người của cô chỉ còn đếm trên đầu ngón tay, còn những người trốn ở đây thì không phải chiến binh.

Lũ người chết đang tiến vào.

Miss Fortune ngoái lại nhìn Illaoi.

Vị nữ tư tế được người của bà vây quanh, tất cả bọn họ vẫn đang làm cái nghi thức kỳ cục kia. Có vẻ nó sẽ chẳng đạt được gì. Bức tượng vẫn bất động.

Bà ta mong đợi điều gì chứ, nó sẽ sống dậy và đẩy lùi lũ người chết như mấy con người sắt ở Piltover sao?

“Dù bà có đang làm gì thì cũng làm nhanh lên!” cô quát.

Một phần mái đền bung ra và rơi như mưa xuống xung quanh. Một đám linh hồn bay vào trong và lao xuống như một cơn bão. Hồn ma và những thứ không thể hiểu nổi xoay vòng trong cơn lốc chết chóc ụp xuống đầu những người sống.

Cuối cùng thì cánh cửa cũng không chịu nổi và bật tung vào trong, những phiến gỗ khô lại và mục nát dưới bàn tay của tử thần. Tiếng tù và vang dội khắp ngôi đền, và Miss Fortune phải lấy tay bịt tai lại trước tiếng vọng inh ỏi của nó.

Hecarim đi nước kiệu vào trong đền, nghiền nát những người cố gắng dùng thân mình để giữ cửa. Linh hồn của họ bị hút vào trong thanh đao của Bóng Ma Chiến Tranh, và ngọn lửa lạnh trên lưỡi đao soi rọi điện thờ bằng thứ ánh sáng đáng ghê tởm. Lũ kỵ sĩ tử thần cưỡi ngựa đứng sau lưng hắn, và những linh hồn đã ở sẵn trong điện thờ lùi lại khi nhận ra hào quang khủng khiếp của Hecarim.

“Ta đã nói người chết không được chào đón ở đây,” Illaoi quát.

Miss Fortune ngước lên nhìn vị nữ tư tế đứng sừng sững cạnh cô, to lớn và oai vệ. Ánh sáng nhạt quấn lấy chân bà và lóe lên trên viên đá mà bà cầm trong đôi tay run run. Mạch máu nổi hằn trên cổ, quai hàm bạnh ra và mồ hôi tuôn ra như suối trên mặt bà.

Dù Illaoi đang làm gì, bà cũng phải trả một cái giá rất đắt.

“Linh hồn lũ phàm nhân này là của ta,” Hecarim nói, và Miss Fortune thấy mình run lên trước giọng nói như sắt thép của hắn.

“Không,” Illaoi nói. “Đây là ngôi nhà của Nagakabouros, người chống lại kẻ chết.”

“Người chết sẽ có thứ chúng muốn,” Hecarim nói, chỉ mũi đao vào tim của Illaoi.

Vị nữ tư tế lắc đầu.

“Không phải hôm nay,” bà nói. “Không phải khi ta vẫn đang chuyển động.”

“Ngươi không thể cản ta.”

“Điếc như một kẻ chết,” Illaoi mỉm cười khi vầng hào quang lớn dần đằng sau bà. “Ta không nói ta sẽ cản ngươi.”

Miss Fortune thấy bức tượng xoắn ốc tắm trong ánh sáng chói mắt. Ánh sáng trắng bốc lên từ bề mặt, và bóng đêm rút chạy khi nó lan đến. Cô lấy tay che mắt khi vùng sáng tỏa ra đối chọi với Màn Sương Đen, làm lộ ra những linh hồn ghê tởm bên trong đó. Ánh sáng lôi lũ người chết về phía trước, thanh tẩy thứ ma thuật hắc ám đã nguyền rủa họ thành xác sống từ lâu.

Cô nghĩ mình sẽ nghe thấy tiếng gào thét, nhưng thay vào đó những người chết khóc trong vui sướng khi linh hồn của họ được trả tự do. Ánh sáng trải khắp bốn bức tường vỡ nát của ngôi đền và khi nó chạm vào cô, Miss Fortune rên lên khi cái tê cóng chết chóc trong cơ thể cô bị trục xuất trong một luồng khí nóng và tràn đầy sức sống.

Ánh sáng của Nagakabouros tiến lại gần Hecarim, và Miss Fortune thấy hắn sợ hãi khi nghĩ tới sự chuyển đổi đó tác động đến mình như thế nào.

Còn gì đáng sợ hơn là thà rằng cứ bị nguyền rủa cho rồi?

“Ngươi có thể được tự do, Hecarim,” Illaoi nói, giọng bà căng lên vì sức chịu đựng đã đến giới hạn. “Ngươi có thể tiếp tục sống trong ánh sáng như con người ngươi luôn mơ tới trước khi khổ đau và điên loạn biến đổi ngươi.”

Hecarim gầm lên và quét lưỡi đao vào cổ Illaoi.

Thanh kiếm của Miss Fortune ngăn hắn lại trong một cú va chạm tóe lửa. Cô lắc đầu.

“Biến khỏi thành phố của ta,” cô nói.

Cây đao của Hecarim thu lại chuẩn bị ra đòn tiếp, nhưng trước khi hắn kịp làm thế, ánh sáng đã xuyên được qua tấm màn bóng tối. Hắn hét vang trong đau đớn và lùi xa khỏi luồng sáng cháy bỏng. Hình dáng tên kỵ sĩ bóng đêm mờ dần, như hai bóng nến lập lòe trên cùng một tấm màn.

Miss Fortune liếc qua người kỵ sĩ cao lớn, mặc giáp vàng và bạc. Một người trẻ tuổi, đẹp trai và tự hãnh với đôi mắt đen và một tương lai huy hoàng phía trước.

Chuyện gì đã xảy ra với anh ta?

Hecarim rống lên và phi ra khỏi điện thờ.

Đám kỵ sĩ tử thần và bóng tối chạy theo hắn, một đám những linh hồn gào rít cũng tiếp bước chúng.

Ánh sáng của Nagakabouros lan khắp Bilgewater như bình minh đang tới. Không ai chứng kiến cảnh này lại từng cảm thấy một cảnh tượng tươi đẹp đến thế; những tia nắng đầu tiên sau cơn bão, những hơi ấm đầu tiên sau một mùa đông ảm đạm.

Màn Sương Đen rút đi, cùng với một xoáy lốc những linh hồn đang hoảng loạn. Đám người chết lần lượt trở nên điên cuồng, một số tên vùng vẫy để quay lại nơi từ đó chúng đã đến, trong khi số khác thì tìm kiếm sự giải thoát trong ánh sáng.

Lặng im phủ xuống khi Màn Sương Đen bay ra đại dương, quay về hòn đảo bị nguyền rủa mà nó thống trị.

Mặt trời nhô lên nơi chân trời phía Đông, và những cơn gió trong lành thổi qua thành phố khi người dân Bilgewater cùng thở phào.

Đêm Thống Khổ đã qua.

Im lặng tràn ngập ngôi đền, không khí yên ắng tương phản hoàn toàn với cuộc náo loạn chỉ vài phút trước đó.

“Kết thúc rồi,” Miss Fortune.

“Cho đến lần sau thôi,” Illaoi mệt mỏi đáp. “Sự thèm khát của Màn Sương Đen luôn âm ỉ như một cơn bệnh.”

“Bà đã làm gì?”

“Làm điều phải làm.”

“Dù gì thì cũng cảm ơn bà.”

Illaoi lắc đầu và vòng cánh tay mạnh mẽ qua vai Miss Fortune.

“Cảm tạ nữ thần ấy,” Illaoi nói. “Hiến tế cái gì đi. Cái gì to vào.”

“Tôi sẽ làm thế,” Miss Fortune đáp.

“Tốt hơn là cô nên làm. Thần linh của tôi không thích những lời hứa suông đâu.”

Một lời đe dọa ngấm ngầm, và trong thoáng chốc cô nghĩ đến việc bắn một viên đạn vào đầu bà ta. Nhưng trước khi cô có thể nhích tay đến báng súng, Illaoi đã đổ gục xuống. Miss Fortune nắm lấy tay bà, nhưng vị nữ tư tế quá to con để cô đỡ được một mình.

Cả hai ngã xuống sàn nhà bằng vỏ sò.

“Rafen, giúp tôi kéo bà ta dậy,” cô nói.

Hai người vực Illaoi dựa vào một cái ghế gãy, càu nhàu vì phải gắng sức di chuyển thân hình khổng lồ của bà ta.

“Quý Bà Râu nổi lên khỏi mặt biển…” Rafen nói.

“Đừng có ngu ngốc mãi thế,” Illaoi nói. “Ta đã bảo Nagakabouros không sống dưới biển.”

“Vậy thì ở đâu?” Rafen hỏi. “Trên trời sao?”

Illaoi lắc đầu và đấm vào ngực anh ta. Rafen co rúm lại vì đau

“Ngươi sẽ tìm thấy thần ở đó.”

Illaoi nở nụ cười và nhắm mắt lại.

“‘Bà ta chết chưa?” Rafen hỏi, tay vẫn đang xoa ngực.

Illaoi giang tay tát anh ta một cái.

Rồi bà ta bắt đầu ngáy như sấm.

Lucian ngồi trên thành cầu ngắm nhìn thành phố lộ ra sau Màn Sương Đen. Mới đầu anh ghét Bilgewater, nhưng cũng nó cũng có một vẻ đẹp nào đó khi ánh nắng chan hòa trên những mái ngói, tạo nên một quầng sáng ấm áp màu hổ phách.

Thành phố lại hồi sinh sau mỗi lần Đêm Thống Khổ tan biến.

Một cái tên thích hợp cho quãng thời gian đáng sợ đó, nhưng chỉ diễn tả được một phần sự kinh khủng ở nơi xuất xứ của nó. Liệu có ai ở đây thực sự hiểu được tấn bi kịch trên Quần Đảo Bóng Đêm?

Và dù có đi nữa, liệu họ sẽ quan tâm sao?

Anh quay lại khi nghe có tiếng bước chân tiến đến.

“Trên này nhìn xuống khá đẹp đấy,” Miss Fortune nói.

“Chỉ ở trên này nhìn xuống mới thế thôi.”

“Phải, đúng là một ổ rắn độc,” Miss Fortune tán đồng. “Có người tốt kẻ xấu, nhưng ta đảm bảo có ít kẻ xấu hơn nhiều đấy.”

“Tôi nghe nói cô đã khơi mào một cuộc chiến,” Lucian nói. “Có người sẽ nói làm thế giống như đốt nhà để bắt chuột vậy.”

Anh thấy cô nổi giận, nhưng chỉ là thoáng qua

“Tôi đã nghĩ mình làm điều tốt cho tất cả mọi người,” cô vừa nói vừa ngồi lên thành cầu, “nhưng tôi chỉ khiến họ tồi tệ hơn. Tôi cần phải hành động, kể từ bây giờ.”

“Đó là lý do cô đi ra ngoài khi Màn Sương Đen tràn tới?”

Cô gái suy nghĩ một lát.

“Lúc đầu có lẽ là không,” cô đáp. “Tôi đã gỡ một con cá chình đao ra khỏi móc câu khi tôi giết Gangplank, và nếu tôi không giữ nó và đưa nó lại chỗ cũ, nó sẽ cắn rất nhiều người tốt.”

“Một con cá chình đao?”

“Ý tôi là khi hạ bệ Vua Hải Tặc, tôi hoàn toàn không biết điều gì sẽ xảy ra sau khi hắn chết. Tôi không quan tâm,” cô nói. “Nhưng tôi đã thấy điều gì đang xảy ra ở đây khi không còn ai kiểm soát nữa. Cả thành phố tự cắn xé lẫn nhau. Bilgewater cần một người mạnh mẽ cai trị. Chẳng có lý do gì mà người đó không thể là tôi. Cuộc chiến chỉ mới bắt đầu, và cách duy nhất để nó sớm kết thúc là tôi giành chiến thắng.”

Thêm một thoáng im lặng.

“Câu trả lời của tôi là không.”

“Tôi đâu có hỏi gì.”

“Có chứ,” Lucian nói. “Cô muốn tôi ở lại và giúp cô thắng cuộc chiến, nhưng tôi không thể. Cuộc chiến này là của cô, không phải của tôi.”

“Có thể đấy,” Miss Fortune nói. “Tiền công hậu hĩnh và anh có thể giết rất nhiều kẻ xấu. Và cứu vớt nhiều linh hồn vô tội.”

“Tôi chỉ cần cứu duy nhất một linh hồn thôi,” Lucian nói. “Và tôi sẽ không làm được điều đó ở Bilgewater.”

Miss Fortune gật đầu và giơ tay ra.

“Vậy tôi xin chào từ biệt và chúc anh đi săn thành công,” cô đứng dậy và phủi bụi trên giày. “Tôi hy vọng anh sẽ tìm được thứ anh đang kiếm. Nhưng nhớ là anh có thể đánh mất bản thân mình vì báo thù đấy.”

Lucian nhìn cô bước trở về tàn tích của ngôi đền trong khi những người sống sót ùa ra, mắt hấp háy trong ánh sáng ban ngày. Cô nghĩ mình có thể hiểu động cơ của anh, nhưng cô chẳng biết gì cả.

Báo thù? Còn hơn cả báo thù nữa chứ.

Người anh yêu đang bị hành hạ bởi một hồn ma bất tử, một sinh vật cổ xưa thấu hiểu nỗi thống khổ hơn bất kỳ ai.

Miss Fortune chẳng thể hiểu được một phần nỗi đau của anh.

Anh đứng dậy, đưa mắt nhìn ra biển.

Đại dương tĩnh lặng như một tấm vải màu ngọc bích trải dài trước mặt.

Mọi người đã xuống bến tàu, sửa chữa thuyền bè và dựng lại nhà. Bilgewater chưa bao giờ ngừng lại dù là sau Đêm Thống Khổ. Mắt anh tìm kiếm trong rừng cột buồm để xem có con tàu nào không bị hỏng nặng lắm không. Có lẽ một viên thuyền trưởng đang tuyệt vọng sẽ bị thuyết phục để chở anh đến nơi cần đến.

“Anh đến đây, ánh sáng của anh,” Lucian nói. “Và anh sẽ trả tự do cho em.”

Tay ngư dân càu nhàu khi dùng tời kéo người đàn ông to lớn lên thuyền. Dây thừng căng ra và trán gã lấm tấm mồ hôi giữa trời lạnh khi gã quay cái tay quay.

“Râu ria quỷ thần ơi, đúng là một thằng khốn to lớn, chắc chắn là thế,” gã nói, cài một cái móc vào áo giáp của người đó và kéo ông ta lên sàn thuyền. Gã vẫn phải cảnh giác lũ thú săn mồi, cả trên và dưới mặt nước.

Màn Sương Đen vừa biến khỏi đường chân trời thì hàng đống thuyền đã đổ ra biển. Mặt nước bập bềnh đầy những của cải bị cướp bóc, và nếu không nhanh chân, bạn sẽ chẳng xơi được miếng nào.

Gã đã nhắm đến người đàn ông này trước và đã phải vượt qua sáu kẻ khác cũng có ý định tương tự. Quỷ tha ma bắt những kẻ định cướp phần thưởng này của gã đi.

Người đàn ông to lớn đang bám lấy một thứ trông như di hài của một con Krakenwyrm khổng lồ. Những xúc tu của nó nhão nhoét và căng phồng đầy hơi độc, thứ đã giúp thân thể to lớn mang giáp của ông ta nổi trên mặt nước.

Gã để ông ta nằm trên sàn tàu dọc theo ụ súng trước khi đưa mắt quan sát khắp người ông ta.

Một bộ giáp sắt nặng nề, chắc chắn ủng viền lông thú và, trên tất cả, cây búa tuyệt đẹp kẹt trong lớp dây đai của bộ giáp.

“À, phải, có thể kiếm được vài đồng Kraken đấy,” gã vừa nói vừa nhảy múa tung tăng quanh thuyền. “Thực sự là vài đồng Kraken đấy!”

Người đàn ông ho ra vài ngụm nước biển mằn mặn.

“Ta vẫn còn sống sao?” ông ta hỏi.

Tay ngư dân ngừng điệu nhảy của mình và đặt tay lên con dao dài nơi thắt lưng. Gã dùng nó để mổ bụng cá. Chẳng có lý gì gã không thể dùng nó để rạch họng ai đó. Đâu phải lần đầu một kẻ hôi của tiễn một người về với Quý Bà Râu để lấy phần thưởng cho mình.

Ông ta mở mắt.

“Cứ thử chạm vào con dao đó lần nữa và ta sẽ cắt ngươi ra nhiều mảnh hơn cả con Krakenwyrm chết tiệt kia.”

Nguồn: League Of Legends Universe

Chuyên mục Hồ Sơ Nhân Vật Liên Minh Huyền Thoại

Website: hosonhanvat.vn

Get real time updates directly on you device, subscribe now.

Bình Luận
Loading...