Hồ sơ – Tiểu sử – Câu truyện AZIR HOÀNG ĐẾ SA MẠC

0 146

Azir là hoàng đế của Shurima từ một thời đại xa xăm, một kẻ kiêu hãnh đứng trên đỉnh của sự bất tử. Thói ngạo mạn đã khiến ngài bị phản bội và sát hại đúng thời khắc đắc tngàig nhất, nhưng giờ, hàng thiên niên kỷ sau, ngài đã tái sinh thành Thể Thăng Hoa đầy sức mạnh. Khi thành phố bị chôn vùi trỗi dậy từ lòng cát, Azir tìm cách phục hồi Shurima hưng thịnh trước đây.

“Shurima từng là ánh hào quang của Runeterra. Ta sẽ tái hiện lại nó.”~ Azir

  • Tên Tướng: Azir
  • Chủng tộc: Darkin/Thể Thăng Hoa
  • Vai Trò: Pháp Sư
  • Vùng Đất: Shurima

Tiểu Sử Của AZIR HOÀNG ĐẾ SA MẠC

Azir là hoàng đế của Shurima từ một thời đại xa xăm, một kẻ kiêu hãnh đứng trên đỉnh của sự bất tử. Thói ngạo mạn đã khiến ngài bị phản bội và sát hại đúng thời khắc đắc thắng nhất, nhưng giờ, hàng thiên niên kỷ sau, ngài đã tái sinh thành Thể Thăng Hoa đầy sức mạnh. Khi thành phố bị chôn vùi trỗi dậy từ lòng cát, Azir tìm cách phục hồi Shurima hưng thịnh trước đây.

Nhiều nghìn năm trước, đế chế Shurima là một đất nước rộng lớn với vô số chư hầu bị đội quân của các chiến binh Thăng Hoa bất bại chinh phục. Được cai trị bởi là một hoàng đế đầy tham vọng và khao khát quyền lực, Shurima là thế lực vĩ đại nhất thời đó; một vùng đất màu mỡ ngập tràn phước lành của mặt trời tỏa sáng từ đĩa vàng khổng lồ trên đỉnh điện thờ giữa trung tâm kinh đô.

Là hoàng tử trẻ và ít được sủng ái nhất, Azir vốn chẳng được định sẽ trở thành vĩ nhân. Ngài không thể lên ngôi khi phía trước còn biết bao anh em khác. Thường thì ngài sẽ nhận một vị trí trong giới tu sĩ hoặc quản lý một tỉnh khỉ ho cò gáy nào đó. Cậu bé cao gầy hiếu học này dành nhiều thời gian nghiền ngẫm trong Đại Thư Viện Nasus hơn là rèn luyện chiến đấu dưới sự hướng dẫn hà khắc của anh hùng Thăng Hoa, Renekton.

Giữa hàng hàng lớp lớp kệ sách, Azir gặp một cậu nô lệ hay lui tới thư viện để tìm những tựa sách ông chủ cậu ta muốn. Nô lệ ở Shurima không được phép có tên, nhưng khi cả hai trở nên thân thiết, Azir phá luật và gọi cậu ta là Xerath, nghĩa là ‘người chia sẻ.’ Ngài chỉ định Xerath – dù rất cẩn trọng không bao giờ gọi tên cậu ta một cách công khai – là nô lệ riêng của mình. Cả hai cùng chia sẻ tình yêu với lịch sử qua việc học hỏi mọi điều có thể về Shurima trong quá khứ và di sản trường tồn của các Thể Thăng Hoa.

Trong chuyến tuần du hàng năm với cha, các anh và Renekton, đoàn của Azir dừng chân nghỉ đêm tại một ốc đảo nổi tiếng. Đôi bạn thân lén ra ngoài để quan sát trời sao và vẽ nên bản đồ thiên văn của riêng mình, bổ sung cho những gì đã nghiên cứu trong Đại Thư Viện. Trong lúc đó, đoàn bị tấn công bởi một đội thích khách do kẻ thù cử đến. Một gã sát thủ tìm thấy hai cậu bé giữa sa mạc. Chút nữa là hắn làm hại đến Azir nếu Xerath không can thiệp bằng một cú húc từ sau lưng. Chớp thời cơ, Azir đâm con dao găm ngập vào người tên ám sát.

Azir nhặt thanh kiếm của kẻ vừa bị hạ lên và chạy như bay về ốc đảo. Đến lúc đó, địch đã bị đánh bại. Renekton tiêu diệt toàn bộ đội thích khách, bảo vệ được hoàng đế, song các anh em của Azir thì không may mắn như vậy. Azir kể cho phụ vương Xerath đã can đảm ra sao và xin ban thưởng, nhưng chỉ hoài công. Trong mắt hoàng đế, Xerath chỉ là một nô lệ hèn mọn chẳng đáng để mắt. Tuy nhiên, Azir thề rằng một ngày ngài và cậu ta sẽ trở thành anh em.

Hoàng đế quay lại kinh đô, nơi cậu bé mười lăm tuổi Azir giờ là người thừa kế. Cha ngài tiến hành một chiến dịch đẫm máu chống lại những kẻ ông tin là đã cử sát thủ đến. Shurima chìm trong nhiều năm hỗn loạn và tàn sát khi đấng chí tôn tìm cách báo thù bất kỳ ai bị nghi là bội phản. Dù được kế vị ngai vàng, sinh mạng Azir vẫn như chỉ mành treo chuông. Phụ hoàng căm ghét ngài – ông ước gì ngài chết thay cho các anh em – và hoàng hậu thì vẫn còn có thể hạ sinh hoàng tử.

Azir luyện tập cách chiến đấu, bởi cuộc tấn công trên ốc đảo đã cho thấy kiến thức ít ỏi của ngài về môn nghệ thuật chết chóc này. Renekton lãnh trách nhiệm dạy dỗ thái tử, nhờ đó, Azir học được cách sử dụng kiếm giáo, chỉ huy chiến binh, và đọc cục diện trận chiến. Xerath, người duy nhất được Azir tin tưởng, cũng dần thăng cấp thành cánh tay phải của ngài. Cậu ta được giao nhiệm vụ tìm kiếm tri thức ở bất kỳ nơi nào có thể.

Năm tháng trôi qua, hoàng hậu vẫn không thể sinh con: tất cả đều chết trước khi kịp chào đời. Cũng chừng đó thời gian, Azir được tương đối an toàn. Trong triều lan truyền tin đồn về một lời nguyền và sự dính líu của người thừa kế trẻ tuổi đến nó. Azir tuyên bố mình trong sạch và hành quyết vài kẻ dám công khai cáo buộc ngài.

Cuối cùng, hoàng hậu cũng hạ sinh một bé trai kháu khỉnh, nhưng ngay trong đêm ấy, một cơn bão khủng khiếp đã ập đến. Phòng của hoàng hậu bị những tia sét giáng xuống hết lần này đến lần khác, khiến cả bà lẫn đứa trẻ mới sinh đều thiệt mạng trong đám cháy. Hoàng đế phát điên vì đau buồn và tự sát khi nghe tin, song rất nhanh đã có lời đồn đại rằng xác ông cùng cận vệ được tìm thấy trên sàn cung điện, chẳng còn gì ngoài những bộ xương cháy đen.

Azir bị sốc trước cái chết của họ, nhưng đế chế không thể một ngày vô chủ. Với Xerath phò tá, ngài lên nắm quyền kiểm soát Shurima. Suốt thập kỷ tiếp theo, ngài mở rộng biên cương và trị vì bằng bàn tay khắc nghiệt mà công chính. Ngài thực hiện cải cách nhằm nâng cao đời sống nô lệ và bí mật xây dựng kế hoạch lật đổ truyền thống ngàn năm để trả tự do cho tất cả họ. Ngài không tiết lộ dự định của mình với bất kỳ ai, kể cả Xerath, bởi những rắc rối trong chế độ chiếm nô có thể trở thành nguyên nhân mối bất hòa giữa hai người. Đế chế được dựng lên trên lưng nô lệ, và nhiều đại gia tộc phụ thuộc vào việc bóc lột nô lệ để đạt được của cải và quyền lực. Những thể chế thâm căn cố đế này không thể bị xóa bỏ trong một đêm, Azir cần thời gian để kế hoạch của ngài được thấm nhuần rộng khắp. Dù rất muốn gọi Xerath là anh em, ngài không thể làm thế đến khi tất cả nô lệ trên Shurima thoát khỏi xiềng xích.

Xerath không ngừng bảo vệ bạn mình khỏi các đối thủ chính trị và dẫn dắt đế chế phát triển. Azir kết hôn và trở thành cha của nhiều đứa trẻ. Xerath mở ra trước mắt ngài viễn cảnh về một đất nước hùng cường mà thế giới chưa từng biến đến. Tuy nhiên, để đạt đến đỉnh cao đó, Xerath đã thuyết phục Azir ngài cần phải trở thành một thực thể bất khả chiến bại, một vị thần giữa loài người – một Thể Thăng Hoa.

Khi vương quốc đã hưng vượng tới tột cùng, Azir tuyên bố rằng ngài sẽ tiến hành nghi thức Thăng Hoa, rằng đã đến lúc ngài có được một vị trí bên cạnh Nasus và Renekton và các bậc tiền bối. Nhiều người phản đối quyết định này; nghi thức Thăng Hoa cực kỳ nguy hiểm và chỉ dành cho những ai đã sắp xa lìa trần thế, những ai đã dâng hiến sinh mạng cho Shurima và tháng năm phục vụ của họ sẽ được Thăng Hoa vinh danh. Các Tư Tế Mặt Trời mới là người chỉ thị xem ai được Thăng Hoa ban phước, chứ không phải là cuồng vọng của một hoàng đế. Không ai can gián được Azir, bởi lòng tự kiêu của ngài quá cao, và ngài đàn áp tất cả.

Ngày nghi thức diễn ra cuối cùng đã đến. Azir tiến bước về phía Đài Thăng Hoa, được hàng nghìn chiến binh và hàng vạn thần dân vây quanh. Anh em Renekton và Nasus vắng mặt, Xerath cử họ đi giải quyết một hiểm họa đang chực chờ trỗi dậy, nhưng Azir không quay lưng lại với định mệnh vĩ đại kia. Ngài trèo lên đĩa vàng khổng lồ trên đỉnh điện thờ ở trung tâm thành phố. Đúng thời khắc các Tư Tế Mặt Trời bắt đầu cử hành nghi thức, ngài hướng về phía Xerath và trả tự do cho anh ta. Không, không chỉ anh ta, mà là tất cả nô lệ…

Xerath sững sờ không nói nên lời, nhưng Azir vẫn chưa xong việc. Ngài ôm lấy Xerath và gọi anh ta là anh em muôn đời của mình, như đã hứa nhiều năm trước. Azir quay đi khi nghi thức kêu gọi sức mạnh khủng khiếp của mặt trời bắt đầu. Azir không biết được rằng Xerath không chỉ nghiên cứu lịch sử và triết học trong hành trình kiếm tìm tri thức. Hắn đã học ma thuật hắc ám, nuôi dưỡng khao khát tự do lớn dần thành hận thù cháy bỏng.

Khi nghi thức đã đạt đến đỉnh điểm, người nô lệ cũ phóng thích sức mạnh, hất văng Azir khỏi Đĩa Mặt Trời. Không có vòng tròn cổ ngữ bảo vệ, Azir bị hỏa nhật nuốt chửng trong lúc Xerath thế chỗ ngài. Ánh sáng làm Xerath ngập tràn sức mạnh, và hắn gầm lên khi cơ thể phàm trần bắt đầu biến đổi.

Nhưng ma thuật của nghi thức vốn không dành cho Xerath, và nguồn năng lượng hùng mạnh kia không thể đổi hướng mà không gây hậu quả nghiêm trọng. Sức mạnh của nghi thức Thăng Hoa bùng nổ, tàn phá Shurima. Dân cư bị cháy thành tro, những cung điện sụp xuống thành đống đổ nát, và cát sa mạc nổi lên nuốt lấy thành phố. Đĩa Mặt Trời, thứ đã mất hàng thế kỉ để dựng nên nay tiêu biến trong khoảnh khắc bởi tham vọng của một người và thù hận đặt nhầm chỗ của một người khác. Tất cả những gì còn lại là tàn tích của kinh đô huy hoàng và vọng âm của những tiếng người dân gào thét lẫn trong gió đêm.

Azir không thấy gì cả. Với ngài, tất cả là hư vô. Ký ức cuối cùng chỉ có lửa và đau đớn; ngài không biết chuyện gì đã khiến ngài rơi khỏi đỉnh điện thờ, càng không biết chuyện gì đã xảy ra với đế chế của ngài. Ngài lạc lối trong sự quên lãng vô tận cho đến khi, hàng ngàn năm sau khi Shurima sụp đổ, dòng máu hậu duệ cuối cùng của ngài nhỏ vào tàn tích của điện thờ và hồi sinh ngài. Azir sống lại, nhưng vẫn chưa hoàn thiện; thân thể này chỉ là một đám bụi hình người, được níu giữ bởi ý chí bất khuất.

Dần dần lấy lại sức mạnh, Azir loạng choạng bước ra khỏi đống đổ nát và đi ngang qua thi thể một phụ nữ với lưỡi dao phản trắc cắm sau lưng. Ngài không biết cô ta, nhưng những đường nét đó gợi lại về mối quan hệ huyết thống. Ngài quên hết mọi suy nghĩ về đế chế và quyền lực khi bế cô con gái của Shurima đến Ốc Đảo Bình Minh. Nơi này đã trống rỗng và khô cằn, nhưng mỗi nơi Azir đặt chân đến, nước ngọt bắt đầu đong đầy bình nguyên đá. Azir đặt cô ta vào giữa dòng nước phục sinh. Khi máu được rửa trôi, chỉ còn lại vết sẹo mờ ở nơi lưỡi dao đã xuyên qua.

Nhờ hành động quên mình đó, ma thuật Shurima đã tái tạo Azir, biến ngài trở thành Thể Thăng Hoa ngài hằng mong mỏi. Hào quang mặt trời bất diệt rót xuống, cho ngài sức mạnh điều khiển cát. Azir nhấc tay, thành phố rũ bụi trỗi dậy từ lòng cát. Đĩa Mặt Trời lại xuất hiện trên bầu trời, và dòng nước chữa lành bệnh tật từng chảy giữa chân điện thờ lại được thấy ánh sáng.

Azir leo lên từng bậc thang của điện thờ mặt trời vừa dựng nên, ngài lệnh cho gió sa mạc tái hiện thời khắc cuối cùng của thành phố. Azir kinh hoàng khi thấy những bóng ma tạo thành từ cát kể lại hành động bội phản của Xerath. Gia đình bị sát hại, đế chế bị sụp đổ và sức mạnh bị đánh cắp. Đến bây giờ, cả thiên niên kỷ sau, ngài mới hiểu nổi hận thù sâu sắc trong lòng người bạn và đồng minh cũ. Với quyền năng của một Thể Thăng Hoa, Azir cảm thấy sự hiện diện của Xerath đâu đó ngoài kia và triệu hồi một đạo quân cát diễu hành bên cạnh. Khi ánh nắng chiếu sáng Đĩa Mặt Trời phía trên, Azir tuyên thệ.

Ta sẽ lấy lại đất đai và tất cả những gì thuộc về ta!

Câu truyện của AZIR HOÀNG ĐẾ SA MẠC 1: TRỖI DẬY

Azir rảo bước trên Con Đường Đế Vương lát bằng vàng ròng. Những bức tượng khôi vĩ của các cựu vương – những vị tổ tiên – dõi theo ngài.

Những tia sáng chập chờn mờ ảo của buổi chớm rạng đông thẩm thấu khắp thành phố. Những vì sao lấp lánh nhất vẫn còn đang tỏa sáng lung linh trên bầu trời, dẫu rằng sớm thôi, chúng sẽ bị vầng mặt trời sắp trỗi dậy làm lu mờ hoàn toàn. Bầu trời đêm không giống như trong kí ức của Azir, vật đã đổi, sao đã dời. Cả thiên niên kỉ đã trôi qua.

Chiếc quyền trượng nặng trĩu nện lên mặt đất thành từng hồi hòa nhịp cùng mỗi bước chân của Azir, âm thanh cô độc ấy cứ vang vọng mãi trên khắp các nẻo đường thủ đô hiu quạnh.

Lần gần nhất khi ngài bước trên con đường này, 10.000 vệ binh thiện chiến đầy kiêu hãnh hộ giá ngài trong tiếng hoan hô vang trời của đám đông. Sự huy hoàng đó lí ra đã phải dâng lên đến tột đỉnh – nếu như nó không bị đánh cắp khỏi ngài.

Giờ đây thành phố thật hoang vắng và điêu tàn. Nhân dân của ngài hiện ở chốn nao?

Bằng một cử chỉ dứt khoát, Azir lệnh cho những đụn cát bên đường trỗi dậy, hóa thành các bức tượng sống động. Quá khứ sẽ được tái hiện ngay chốn này, đã từng là hình ảnh của một Shurima huy hoàng.

Những bức tượng cát dõi mắt về phía xa và cúi đầu trước chiếc Đĩa Mặt Trời khổng lồ nằm trên Bệ Đài Thăng Hoa khoảng nửa dặm. Nó vẫn lơ lửng tại đấy như một minh chứng về sự hùng mạnh và huy hoàng của vương triều thuộc quyền Azir, dẫu rằng chẳng còn ai để thưởng thức nó. Cô gái tộc nhân Shurima, hậu duệ của Azir, người đánh thức ngài dậy, đã biến mất. Ngài cảm nhận được sự tồn tại của cô gái đâu đó ngoài kia trong sa mạc. Huyết quản kết nối họ với nhau.

Khi Azir tiếp tục rảo bước trên Con Đường Đế Vương, những bức tượng cát đóng vai nhân dân tụ tập quanh Đĩa Mặt Trời, khuôn mặt tươi vui của họ nhanh chóng hóa thành khiếp hãi. Miệng gào to những tiếng thét câm lặng. Họ bỏ chạy, loạng choạng và gục ngã. Azir chứng kiến những khoảnh khắc cuối cùng của họ trong trầm lặng tĩnh mịch.

Họ bị xóa sổ bởi một làn sóng năng lượng vô hình, và tất cả tro tàn đều cuốn theo chiều gió. Sai lầm nào trong nghi thức Thăng Hoa đã dẫn tới thảm họa này?

Azir thu hẹp sự chú ý của mình lại. Những bước chân dần trở nên quả quyết hơn. Ngài tiến đến những nấc đầu tiên của chiếc Thang Thăng Hoa rồi bắt đầu leo lên, sải chân năm bậc một lần.

Chỉ những quân lính tín cẩn, các tế tư, và dòng dõi hoàng gia mới được quyền đặt chân lên chiếc Thang. Các phiên bản tượng cát sắm những vai kể trên xếp hàng theo chân ngài, mặt ngước lên nhăn nhó và gào lên trong câm lặng trước khi bị gió cuốn phăng đi mất.

Ngài chạy, sải chân trên các nấc thang nhanh hơn tất thảy, vuốt chân cắm phập vào những viên đá, tạo nên các vết xước chẳng lẫn vào đâu được. Những bức tượng cát liên tiếp trỗi dậy rồi lại biến mất hai bên người ngài trong suốt hành trình leo thang.

Ngài đã đến đỉnh. Tại đấy ngài trông thấy những người quan khán cuối cùng: các phụ tá thân cận nhất, các cố vấn, các tư tế tối cao. Gia đình của ngài.

Azir khuỵu ngã. Gia đình ngài ở ngay phía trước, được khắc họa sống động đến từng chi tiết một cách đau lòng. Hoàng hậu đang hoài thai tay nắm chặt nàng công chúa bé nhỏ nhút nhát. Chàng hoàng tử đứng nghiêm nghị cạnh bên, chẳng mấy chốc nữa sẽ đến tuổi trưởng thành.

Điếng người, Azir nhìn thấy những thay đổi trong biểu cảm của họ. Dẫu biết rõ điều gì sẽ xảy ra, ngài không thể nào quay đi. Nàng công chúa giấu mặt sau chiếc váy của hoàng hậu; chàng hoàng tử trờ tay đến thanh gươm, gầm lên bằng hết sức bình sinh. Hoàng hậu… đôi mắt nàng mở trân trối ánh lên vẻ sầu muộn và tuyệt vọng.

Thảm họa vô hình biến tất cả thành hư không.

Quá đỗi đớn đau, nhưng nào có giọt nước mắt lăn trên bờ mi Azir. Thể Thăng Hoa đã tước đi mãi mãi quyền được thương tiếc khỏi ngài. Trái tim trĩu nặng, ngài cố ép mình đứng dậy. Câu hỏi vẫn chưa có lời đáp, làm sao hậu duệ của ngài vẫn tồn tại.

Đợt tái hiện cuối cùng tiếp nối.

Ngài tiến tới, chững lại một bước dưới Bệ Đài, và tập trung vào đoạn kết của vở diễn, tái hiện lại dưới hình hài của cát.

Ngài nhìn thấy chính mình, trong hình hài nhân loại, bay trên không trung bên dưới Đĩa Mặt Trời, tay trải dài hai bên ưỡn ngực về phía trước. Ngài vẫn còn nhớ khoảnh khắc này. Năng lượng cuồn cuộn chảy bên trong, hòa trộn thể xác và lấp đầy cả người ngài với sức mạnh thần thánh.

Một bức tượng cát mới được định hình. Vị pháp sư, trợ tá tín cẩn nhất của ngài, Xerath.

Người bạn đó thốt lên một hơi lặng. Azir nhìn chính bản thân mình vỡ tan thành từng mẩu cát nhỏ.

“Xerath,” Azir thở ra.

Biểu cảm của kẻ phản bội thật bất định, nhưng tất cả những gì Azir thấy là khuôn mặt của một tên sát nhân.

Sự căm hờn đó bắt nguồn từ đâu? Azir chẳng bao giờ có thể ngờ tới.

Hình hài bằng cát của Xerath bay cao lên trong không trung nơi các nguồn năng lượng của Đĩa Mặt Trời hội tụ. Hàng toán các vệ binh thiện chiến nhất lao hết tốc lực về phía hắn, nhưng tất cả đã quá trễ.

Một cơn sóng chấn động khủng khiếp lan tỏa khắp muôn nơi, phân hủy cảnh tượng tối hậu của Shurima. Azir đứng một mình mình cô quạnh trong những âm vang tàn dư của quá khứ.

Đây là điều đã giết chết nhân dân của ngài.

Azir quay mình, vừa lúc những tia nắng đầu tiên của một bình minh mới chiếu rọi trên đỉnh của chiếc Đĩa Mặt Trời. Ngài đã thấy đủ rồi. Biến thể bằng cát của Xerath sụp đổ đằng sau ngài.

Ánh bình minh phản chiếu lộng lẫy trên lớp giáp hoàng kim của Azir. Ngay khoảnh khắc đó, ngài biết rằng tên phản bội vẫn còn sống. Ngài có thể cảm nhận được sự tồn tại của gã pháp sư trong từng hơi thở.

Azir giơ tay lên cao, và một đội quân những binh sĩ thiện chiến trỗi dậy từ hàng tấn cát bên dưới Thang Thăng Hoa.

“Xerath,” ngài cất lời, giọng nói chất chứa cơn thịnh nộ. “Tội ác của ngươi sẽ phải bị trừng trị.”

Câu truyện của AZIR HOÀNG ĐẾ SA MẠC 2: HUYẾT THỐNG

TÁC GIẢ: GRAHAM MCNEILL

Suýt nữa Taliyah đã quên mất mình nhớ cái nóng thiêu đốt của Shurima đến thế nào – hàng trăm con người chen lấn, chửi thề, kỳ kèo mặc cả hoặc tán gẫu hăng say và liến thoắng đến nỗi dân ngoài cứ tưởng họ đang cãi nhau.

Trong suốt cuộc hành trình, Taliyah chưa từng thấy nơi nào ồn ào náo nhiệt như quê nhà. Ionia thật kỳ diệu, dải đất băng giá Freljord cũng tráng lệ theo một cách riêng, nhưng mặt trời Shurima bỏng cháy đã khiến chúng bốc hơi khỏi ký ức cô ngay khi đặt chân lên cầu cảng bằng đá ở Bel’zhun.

Mối liên hệ với thềm đá của vùng đất này trỗi dậy trong Taliyah như món trà cay Babajan hay pha vậy. Miệng cô mở rộng thành một nụ cười thật lớn khi leo lên bậc thang dẫn tới bến tàu, dù có phải đi qua dưới cánh cổng đá đen Noxtoraa cũng không làm cô xuống tinh thần được.

Taliyah không nán lại Bel’zhun lâu. Đoàn chiến hạm Noxus trong bến khiến cô quá lo lắng, nó gợi lại những kỷ niệm xấu. Cô chỉ dừng chân và mua đồ tiếp tế và nghe ngóng tin đồn mới nhất mà các đoàn lữ hành mang đến từ sâu trong sa mạc. Đa số đều mâu thuẫn và khó tin; binh sĩ cát, bão sét giữa trời quang, sông chảy ở những nơi chưa ai từng thấy giọt nước nào.

Mong muốn tìm kiếm vài gương mặt thân quen, Taliyah theo chân đoàn xe vũ trang đầy đủ của lái buôn lụa Nerimazeth rời Bel’zhun đến Kenethet. Cô cố gắng chịu đựng cả một quãng đường tồi tệ tới tận rìa thành phố nơi bờ bắc Sai này trước khi tự đi bộ. Trưởng đoàn – một phụ nữ gầy gò với đôi mắt đen nhánh có tên Shamara – đã khuyên cô không nên tiếp tục tiến xuống phía nam, nhưng Taliyah bảo gia đình cô cần cô, và bà không cảnh báo gì thêm nữa.

Từ Kenethet, cô đi theo vòng cung của thứ từng được gọi là Mẹ Của Sự Sống, dòng sông vĩ đại bắt nguồn từ kinh đô đế chế Shurima cổ. Cô tiết kiệm được thời gian hơn khi chỉ có một mình. Đá sẽ mang cô đi, từng đợt sóng uốn lượn đưa cô về phương nam, thẳng hướng Vekaura, một thành phố nghe đồn đã bị cát bụi của Sai chôn vùi phân nửa.

Shamara đã bỏ qua chỗ đó. Chẳng có bộ tộc nào lại dựng trại trên tàn tích một thành phố bỏ hoang cả, một nơi chỉ có đám lữ hành mệt mỏi và dân du mục lai vãng. Nhưng, thậm chí còn cách đó một dặm, Taliyah thấy bà đã nhầm; Vekaura đã tái sinh.

Giá mà cô không gặp người phụ nữ đang hấp hối ấy.

Ngoại vi thành phố tràn ngập âm thanh và sắc màu. Không khí cay nồng thổi qua con phố uốn cong căng đầy vải bạt, tiếng trả giá vang lên khắp nơi hòa lẫn với mùi của gia vị và thịt nướng. Taliyah chen lấn qua đám đông, bỏ qua những lời chào mời phóng đại và những câu cầu khẩn rủ lòng thương bầy con đang chết đói của đám thương nhân. Một bàn tay túm lấy áo cô, tìm cách kéo vào sạp hàng chất đầy giỏ đựng chuột sa mạc, nhưng cô giật ra được.

Phải có đến vài trăm người tụ tập trên con đường dẫn đến bức tường đổ nát của thành phố. Khói tỏa ra như sương từ tẩu thuốc của mấy cụ già đang ngồi bên thềm cửa. Cô thấy dấu hiệu của bộ tộc Barbae, Zagayah, Yesheje, và cả tá bộ tộc khác cô không biết. Những bộ tộc từng là kẻ thù không đội trời chung khi cô rời Shurima, giờ lại đang kề vai đi bên nhau như anh em chiến hữu.

“Quá nhiều thứ đã thay đổi,” cô nhủ thầm.

Sau khi kiếm đủ những gì mình muốn, cô phải quay lại căn nhà hoang ở sườn đông thành phố. Nấn ná lâu hơn là không cần thiết, nhưng cô đã hứa sẽ đảm bảo an toàn cho người phụ nữ đang bị thương kia, và mẹ cô luôn dạy là không bao giờ được thất hứa. Đấng Sáng Tạo sẽ không dõi theo những kẻ như vậy.

Cái túi vải thô trên vai cô chứa đầy thức ăn: thịt khô, yến mạch, bánh mỳ và phô-mai, cùng hai bao da nước nữa. Nhiều hơn là cô cần, nhưng có phải chỉ cho mình cô đâu? Số vàng giấu trong lần vải lót áo choàng đã gần cạn, song cô biết mình còn cách đích đến không xa. Cô không có cách nào biết chắc, dù càng bước đi, cảm giác lại gần vòng tay ấm áp của mẹ cha càng rõ rệt. Đến lúc đó thì vàng chẳng quan trọng gì nữa, chỉ cần ở trong lều cùng họ là quá đủ rồi.

Đắm chìm trong tương lai êm ấm ấy, Taliyah đâm sầm vào một người đàn ông to lớn. Ông ta đứng bất động, còn cô bị hất văng ra và ngã ngồi xuống đất.

Cứ như một ngọn núi, không di dịch một tấc nào. Người trên phố có vẻ còn rõ điều đó hơn cô. Họ lách sang hai bên ông như nước suối chảy vòng qua tảng đá. Từ đầu đến chân, ông trùm một bộ áo choàng rách nát chẳng che chắn được gì nhiều cho thân hình cao lớn. Tay ông nắm chặt cây gậy dài quấn vải, phần đầu phình to. Hình như ông ta cần nó bởi cô thấy đôi chân gập theo những góc độ thật kỳ quặc.

“Xin lỗi,” cô ngước lên nói, “cháu không nhìn thấy ông.”

Ông cúi xuống, giấu khuôn mặt sau lớp mũ trùm đầu, và không trả lời. Ông chìa tay ra, những ngón tay cũng quấn băng như nạn nhân bị dịch bệnh. Taliyah chần chừ một lát, rồi nắm lấy bàn tay hào hiệp đó.

Ông nhẹ nhàng đỡ cô dậy. Taliyah thoáng thấy ánh vàng bên dưới lớp vải bám đầy bụi đường trước khi ông rút tay về dưới áo khoác.

“Cảm ơn ông,” Taliyah nói.

“Để ý chứ, cô bé,” giọng ông trầm và vang, như thể phát ra từ một cái giếng u buồn không đáy từ sâu bên trong vậy. “Shurima hiện đang là chốn đầy nguy hiểm đấy.”

Ông nhìn theo cô gái nhỏ len lỏi ra khỏi khu phố, và quay lại chỗ bức tường đổ nát của Vekaura. Phần cao nhất cũng chỉ ngang đầu ông, làm bằng gạch nung được sơn cho đồng màu. Dân Vekaura có thể thấy nó thật ấn tượng, nhưng trong mắt ông nó chỉ là một bản sao nghèo nàn của thứ đã tồn tại từ lâu.

Ông sải bước qua cổng, ngắm nghía lớp đá thô ráp mà vừa vặn phía trên. Một người bán nước đang đứng cạnh cỗ máy bằng đồng với những bánh xe liên tục quay để rót nước vào đống chai thủy tinh. Anh ta ngẩng đầu lên nhìn khi ông đi qua.

“Nước không ạ? Mới lấy lên từ Mẹ Của…” người bán nước nói, nhưng chợt nghẹn lời trước hình dáng khổng lồ đang đứng trước mặt.

Ông biết mình nên đi tiếp. Những câu chữ viết bằng máu trên tường Tháp Thiên Văn đã dẫn ông tới đây, cả tên pháp sư đó nữa. Ông cảm nhận được sự hiện diện của Huyết Thống Thăng Hoa tại Vekaura, một người có dòng dõi từ thời đế chế còn trải dài từ bờ đại dương này sang bờ đại dương khác, trước khi nó suy tàn. Tìm ra người đó trước kẻ thù là vô cùng cần thiết, bởi huyết thống Shurima cổ vừa hiếm có vừa chứa đầy sức mạnh. Nó đã đưa Azir trở về từ cõi chết; và khi rơi vào tay kẻ xấu, nó có thể mang diệt vong đến cho đất nước vừa tái sinh.

Đúng, ông nên đi tiếp – nhưng ông không làm thế.

“Ngươi đang buôn bán giữa những hồn ma của quá khứ,” ông nói.

“Hồn ma ạ?” giọng người bán nước run run vì sợ.

“Cổng vòm này,” ông trỏ cây gậy vào trần vòm. Dòng người đi ở thành lũy bên trên làm bụi rơi xuống từng mảng qua những kẽ nứt. “Những nghệ nhân bị lưu đày khỏi Icathia đã xây nên nó. Mỗi viên đá lại được cắt xẻ với sự chính xác đến mức chẳng cần vôi vữa gì cũng khiến chúng dính chặt vào nhau.”

“Tôi… tôi không biết chuyện đó.”

“Đám phàm nhân các người đã quên đi quá khứ và chối bỏ những truyền thuyết đáng ra phải được lưu giữ,” ông nói, nỗi cay đắng của ngàn năm lạc trong sa mạc thăm thẳm đang có nguy cơ trỗi dậy thành cơn giận dữ đầy bạo lực. “Ta đã chẳng xây nên Đại Thư Viện để chống lại sự thất lạc tri thức này sao?”

“Làm ơn, thưa ngài,” anh ta lùi lại đến sát chân tường. “Ngài đang nói về thần thoại thời xưa rồi.”

“Với ngươi thôi, nhưng lần đầu ta tới đây, những bức tường này vừa mới được dựng lên. Hai trăm thước bằng cẩm thạch sáng bóng, mỗi viên đá đều cổ xưa và lấp lánh ánh vàng. Ta và em trai tiến vào thành phố, đắc thắng với mười nghìn binh sĩ giáp dày giáo nhọn. Chúng ta diễu hành qua cánh cổng này trong sự chào đón của nhân dân.”

Ông khẽ thở dài rồi tiếp tục. “Chỉ một năm sau, tất cả đã biến mất. Kết thúc cho mọi thứ. Hay có lẽ đó lại là sự khởi đầu. Ta đã xa lánh thế giới quá lâu đến nỗi chẳng nói nổi chuyện gì nữa rồi.”

Người bán nước tái nhợt đi, anh ta nhìn chăm chăm như muốn xuyên thủng tấm màn đen của chiếc mũ trùm. Đôi mắt anh ta mở lớn.

“Ông là Con Trai Đã Mất Của Sa Mạc!” người bán nước kêu lên. “Ông là… Nasus.”

“Chính là ta,” ông nói rồi quay lưng đi vào thành phố, “nhưng còn có người khác mất mát nhiều hơn ta.”

Nasus đi theo đám đông về phía điện thờ ở trung tâm thành phố, cố gắng lờ đi mọi cái nhìn chòng chọc. Kích cỡ to lớn vốn đã thu hút chú ý rồi, nhưng người bán nước hẳn đã lan truyền danh tính của ông đi khắp nơi. Shurima luôn là một nơi đầy bí mật, không cần biết chúng bị chôn giấu bao lâu. Đến lúc tới được nơi cần tới, ông sẽ ngạc nhiên nếu toàn thể cư dân còn chưa biết tên mình đấy. Đúng, thật ngu ngốc khi dừng lại, nhưng sự thiếu hiểu biết về lịch sử của gã bán hàng kia đã xúc phạm đến vị học giả bên trong Nasus.

Giống như tường và cổng vào, khu nội vi Vekaura cũng chỉ là cái bóng của hào quang xưa cũ. Mẹ Azir đã sinh ra tại đây. Những khu vườn đầy hoa từ khắp mọi nơi trên đế chế tô điểm cho tòa kiến trúc bằng những màu sắc rực rỡ và mùi hương diệu kỳ. Những ngọn tháp tỏa ánh sáng bạc và ngọc thạch. Dòng nước mát lành chảy ra từ đại điện, dọc theo những ống nước khổng lồ đại diện cho tín ngưỡng ngây thơ rằng của cải sẽ không bao giờ cạn.

Cả thiên niên kỷ trôi qua đã bào mòn thành phố chỉ còn trơ lại khung xương đá, những công trình tráng lệ một thời giờ chỉ còn là tàn tích. Vài thế kỷ mới đây, những kẻ vẫn cố bám lấy đường xưa lối cũ đã xây lên nhiều kiến trúc mới, những kẻ vẫn tin rằng tôn vinh quá khứ có thể cứu rỗi tương lai. Càng đi tiếp, Nasus càng thấy thêm nhiều thứ mô phỏng lại một cách thô thiển những ký ức đã bị lãng quên.

Những công trình được các bậc thầy thiết kế giờ chỉ còn là trò đùa méo mó của cảnh huy hoàng xưa. Những bức tường bằng gỗ đá xù xì mọc lên thay thế cho hàng đá hoa cương cắt vuông vức. Bóng dáng thành phố vẫn thế, nhưng Nasus cảm thấy ông đang trải qua một cơn ác mộng, nơi tất cả những gì thân thuộc bị co kéo thành hình dạng mới và kỳ quặc, nơi mọi thứ xoắn vặn vào nhau một cách lộn xộn.

Ông nghe tiếng thì thầm xung quanh khẽ nhắc tên mình. Ông lờ chúng đi, rẽ sang một góc rồi tiến vào quảng trường rộng mở nơi trái tim thành phố. Bàn tay đầy vuốt của ông nắm chặt lại khi thấy thứ dân Vekaura dựng lên giữa lòng thành phố mới xây lại của họ.

Một điện mặt trời xây cẩu thả bằng sa thạch và đá tảng. Dựng lên bởi con người, mang tầm vóc của con người. Nó chỉ là đứa trẻ so với kiến trúc vĩ đại nằm ở tâm điểm đế chế Shurima. Đại Điện từng khiến toàn Valoran ganh tị, biết bao kẻ từ những miền xa xôi đã du hành cả ngàn dặm để chiêm ngưỡng nó. Giờ nó lại được tưởng nhớ một cách sỉ nhục cỡ này sao?

Những bức tường đen, ánh màu đá ba-zan, nhưng Nasus có thể thấy những đường nối vụng về giữa các phiến đá. Đĩa mặt trời tỏa sáng trên đỉnh điện, song đứng từ đây Nasus cũng thấy được nó không đúc bằng vàng, mà được làm từ đồng thau. Nó cũng chẳng trôi lơ lửng như thứ đã ban cho Nasus hình dạng hiện tại. Thay vào đó, đống dây thừng buộc quanh những cột trụ bất đối xứng ở hai bên giữ nó ở nguyên vị trí.

Một phần trong Nasus muốn nổi điên với đám người này, muốn căm ghét họ vì đã xây nên một thứ hồi niệm xấu xí về đế chế mà ông và vô số kẻ khác đã chiến đấu và đổ máu để kiến lập. Ông muốn hét vào mặt họ tội ác họ đã gây ra khi lăng mạ quá khứ hào hùng. Nhưng họ đâu biết những gì ông biết, đâu thấy những gì ông thấy, và ông không thể làm họ hiểu ra được.

Một giáo chủ mặc áo lông chim đứng trước cái đĩa, tay giơ cao cầu khẩn. Những lời khấn khứa của ông ta mất tăm tích giữa đám đông ồn ào.

Đây là người ông đến tìm sao?

Ông quả quyết sải bước băng qua quảng trường tiến về phía điện thờ. Bốn góc đều có những bậc thang không đều nhau. Hai lính gác mang giáp đồng, đội mũ trụ lông chim như hai con quái thú đứng gác lối lên; họ nhìn thấy ông. Nasus ngừng bước khi nhận ra hai cái mũ trụ kia đại diện cho thứ gì. Phần phía trước của cả hai đều kéo dài; một mô phỏng lại hàm cá sấu, cái kia là hình đầu chó rừng.

Họ nâng giáo lên khi ông tiến lại, rồi choáng váng khi ông cởi bỏ áo choàng và đứng thẳng lên. Ông đã lang thang trên cõi trần quá lâu, cúi mình và tủi hổ tìm cách che giấu nhân dạng. Ông đã ẩn mình quá lâu, tự trừng phạt trong cô độc. Những ngày đó đã chấm dứt. Nasus không muốn trốn tránh nữa.

Cao lớn vượt hẳn hai lính gác, Nasus là một kẻ mang đầy sức mạnh và ma thuật, một Thể Thăng Hoa giữa loài người. Thân thể được Đĩa Mặt Trời tái tạo, bộ da thịt khô héo chuyển đổi thành một bán thần đầu chó rừng cứng cáp. Bộ giáp vàng nhuốm màu thời gian với những biểu trưng của Shurima bao quanh ngực và vai. Ông xé toang lớp vải bọc quanh cây gậy để lộ ra chiếc rìu chiến vĩ đại. Lưỡi nó lóe sáng, viên ngọc màu xanh biển lấp lánh như uống lấy từng tia mặt trời.

“Tránh ra,” ông nói.

Hai lính gác run lên vì sợ, nhưng vẫn đứng yên tại chỗ. Nasus thở dài, vung rìu. Người đầu tiên bị hất văng lên và bay xa đến ba mươi thước. Một phát đảo rìu nữa khiến người thứ hai nằm bẹp dưới mặt đất đầy cát bụi, rên rỉ đau đớn trong lúc Nasus đặt chân lên bậc thang.

Ông leo lên đỉnh điện, nơi mặt trời chiếu sáng chiếc đĩa kim loại. Trên đường, ông phóng tầm mắt ra bên ngoài bức tường đổ của Vekaura. Một biển cồn cát kéo dài đến tận chân trời về ba hướng. Ở sườn đông, một dải đồi thấp nhấp nhô trên nền đất khô cằn, mọc lưa thưa vài cây cọ và những lùm bhanavar cắm rẽ cả trăm thước xuống cát để tìm nguồn nước.

Cảnh sa mạc trống không thế này của Shurima làm Nasus chạnh lòng nhớ lại thời Mẹ Của Sự Sống nuôi dưỡng vùng đất này khiến nó căng tràn sức sống. Azir có thể đem lại sự sống cho Shurima một lần nữa, có thể không, điều đó khiến nhiệm vụ tìm kiếm người mang huyết thống của ông càng thêm khẩn thiết.

Những lính gác khác đang di chuyển lên đỉnh điện, la hét bằng một ngôn ngữ hao hao với tiếng Shurima cổ, nhưng chẳng mang chút đẹp đẽ và phức tạp nào của nó.

Nasus nhớ lại cơn đau và nỗi sợ ông cảm thấy khi bước những bậc cuối cùng của Đại Điện để chuẩn bị cho nghi thức Thăng Hoa. Căn bệnh khiến ông không thể nhúc nhích một phân, để rồi em trai ông vòng tay ôm lấy, đưa ông đến nơi cần đến. Mặt trời lên cao, còn sự sống đang tuôn khỏi ông như cát ào ra khỏi mặt kính vỡ. Ông cầu xin Renekton rời đi, để mặc ông một mình đối mặt cùng cái chết, nhưng Renekton chỉ lắc đầu và thì thầm những lời phàm tục cuối cùng trước khi đĩa mặt trời đưa cả hai vào Thăng Hoa.

“Em sẽ ở cùng anh đến tận cùng.”

Tận lúc này, những từ đó vẫn cắt sâu vào ông hơn bất kỳ lưỡi dao nào. Là người thường, Renekton thật khó đoán; đôi khi cậu ấy bạo lực và tàn nhẫn, nhưng cũng cao quý và dũng cảm tương đương. Quyền năng Thăng Hoa ban cho cậu ấy sức mạnh, và rốt cuộc, cũng chính Renekton ôm chặt tên pháp sư phản bội đó kéo xuống Lăng Tẩm Các Hoàng Đế, hy sinh bản thân để cứu Shurima.

Cứu Shurima…?

Có điều gì họ làm hôm đó cứu được Shurima không? Azir đã băng hà, bị chính người bạn thời thơ ấu sát hại. Kinh đô bị phá hủy bởi nguồn ma thuật mất kiểm soát của nghi thức Thăng Hoa bất thành, vùi sâu dưới cát sa mạc. Mỗi ngày, ông đều hồi tưởng khoảnh khắc cánh cửa lăng mộ đóng lại, nhốt Renekton và Xerath bên trong. Ông biết không còn lựa chọn nào khác, nhưng vẫn bị cảm giác tội lỗi đè nặng.

Giờ Xerath cùng Renekton đã tự do. Azir bằng cách nào đó đã đánh bại cái chết để trở thành một Thể Thăng Hoa và tái sinh Shurima. Thành phố cổ trỗi dậy từ nấm mồ cát, rũ bỏ bụi đất suốt ngàn năm say ngủ. Nhưng nếu truyện lan truyền trên sa mạc là thật, Renekton mà Nasus từng biết và yêu mến đã chết rồi. Giờ cậu ấy chỉ còn là một kẻ sát nhân điên cuồng ra tay không chút thương xót chỉ để báo thù.

“Anh đã khiến cậu ra thế này,” Nasus thầm nhủ.

Ông đặt chân lên đỉnh điện, cố xua đi suy nghĩ về thứ người em trai đã trở thành; một con quái vật réo gọi tên Nasus trên mặt cát bỏng cháy.

Một con quái vật cuối cùng ông sẽ phải đối mặt.

Áo choàng của Nasus bay phần phật trong gió khi ông lên đến đỉnh điện. Ông chống rìu xuống nền đá cứng, dành chút thời gian quan sát xung quanh.

Ánh mặt trời phản chiếu qua chiếc đĩa theo nhiều góc độ, sản phẩm của một bề mặt kim loại thô ráp không được đánh bóng. Mấy sợi thừng trông thật thảm hại khi nhìn cận cảnh, làm lộ quá rõ sự sơ sài của thứ người dân Vekaura đã dựng nên. Trang trí thì nghèo nàn; không có những đài cao chạm khắc hình sao trời hay gió bão, không có tượng những anh hùng đã Thăng Hoa canh gác chốn thiêng liêng.

Mười chiến binh áo phủ đầy bụi cầm vũ khí bằng đồng đứng chắn giữa Nasus và giáo chủ. Vị tu sĩ cao gầy, mặc áo khoác dài gắn lông hai bên tay như đôi cánh mở rộng, đội mũ trùm hình cái mỏ đen bóng. Khuôn mặt quý tộc, nghiêm nghị và khắc nghiệt ẩn sau lần vải.

Giống hệt Azir.

“Ngươi là Nasus?” giáo chủ hỏi. Giọng hắn ta sâu và quyền uy, nghe như vua chúa ra lệnh, nhưng Nasus thấy được sự sợ hãi trong đó. Tuyên bố mình là truyền nhân của thần thánh là một chuyện, đối mặt cùng một vị thần lại là chuyện khác.

“Ngươi phải hỏi thế thì chắc là ta đã vắng mặt trên đời này lâu quá rồi. Đúng, ta là Nasus, nhưng quan trọng hơn, ngươi là ai?”

Giáo chủ vươn thẳng người, ưỡn ngực ra như con chim công đang khoe mẽ. “Ta là Azrahir Thelamu, Hậu Duệ Của Ưng Đế, Tiếng Nói Đầu Tiên Của Vekaura, Kẻ Được Khai Sáng, Người Đi Giữa Hào Quang và Người Nắm Giữ Ngọn Lửa Thiêng. Kẻ Mang Bình Minh Tới và…”

“Hậu Duệ Của Ưng Đế?” Nasus ngắt lời. “Ngươi tự nhận mình là dòng dõi của Hoàng đế Azir?”

“Không phải tự nhận, ta chính là người đó,” giáo chủ giật giọng, ông ta tự tin trở lại. “Giờ nói cho ta biết ngươi muốn gì.”

Nasus gật đầu rồi cầm ngang cây rìu bằng cả hai tay.

“Máu của ngươi,” ông đáp.

Ông dộng mạnh cán rìu xuống nền đá, làm bốc lên một đám mây cát. Chúng lơ lửng đó như một tấm màn lấp lánh, chầm chậm xoay vòng quanh giáo chủ và đám chiến binh.

“Ngươi đang làm gì vậy?” hắn ta quát lên.

“Đã bảo rồi, ta cần thấy máu ngươi.”

Trong nháy mắt, vòng cát biến thành vòi rồng. Đám lính gác nâng khiên lên che mặt khỏi bị bão cát quất vào, còn giáo chủ gập đôi người, mù dở và ho sù sụ trước những cơn cuồng phong đầy bụi đất. Gió thổi mạnh đến nỗi có thể nhổ bật cả cụm Eka’Sul trong vài phút. Chẳng có giáp trụ nào ngăn cản được, cát xâm nhập qua mọi kẽ hở nhỏ nhất để công kích da thịt. Đĩa mặt trời quay trước quay sau trong giông tố do Nasus gọi ra, mớ dây buộc bị kéo căng hết mức.

Nasus để cơn cuồng nộ sa mạc tràn ngập, sức mạnh dâng trào khiến cơ thể ông lớn dần trong lúc cát bụi giận dữ gào thét trong từng thớ thịt. Ông biến thành một sinh vật khổng lồ và đáng sợ, y như lời đồn đại về Thể Thăng Hoa đầu tiên vậy.

Không cảnh báo gì, ông ra tay. Dùng mặt bên của cây rìu, ông gạt văng đội lính gác sang hai bên. Ông không muốn làm hại họ, dù gì họ cũng là con cháu của Shurima, nhưng họ đang cản đường ông.

Nasus bước qua những thân người đang quằn quại rên rỉ tiến về phía giáo chủ. Hắn ta nằm thành một đống, hai bàn tay xước xát cố bảo vệ khuôn mặt. Nasus cúi xuống, nắm cổ nhấc bổng hắn lên như nhấc gà con. Chân giáo chủ cách mặt đất cả thước khi Nasus giơ hắn ngang mặt mình.

Da giáo chủ đỏ ửng vì bị cát cọ vào, hai bên má nước mắt giàn giụa. Nasus lại chỗ đĩa mặt trời. Không phải đồ thật, cũng chẳng phải bằng vàng, nhưng nó phản chiếu ánh sáng và thế chắc là đủ.

“Ngươi nói mình là dòng dõi của Azir?” ông bảo. “Giờ hãy xem có đúng không.”

Ông ấn mặt giáo chủ lên đĩa mặt trời. Hắn gào thét khi lớp kim loại bỏng cháy thiêu đốt làn da trần. Nasus quẳng gã đàn ông đang khóc lóc sang bên và nhìn vào chỗ máu đang chảy thành từng dòng. Nó đã khô lại thành một mảng màu nâu, khói bốc lên đưa mùi ngập tràn mũi ông.

“Máu ngươi không phải Huyết Thống Thăng Hoa,” Nasus buồn bã nói. “Ngươi không phải người ta tìm.”

Hai mắt ông nheo lại khi thấy luồng sáng màu lam xuất hiện từ đằng xa trên bề mặt đĩa mặt trời.

Nasus quay lại nhìn về phía đường chân trời. Một đoàn quân đang diễu hành tới, làm đất cát bốc lên mịt mù. Những mũi giáo và giáp trụ sáng loáng dưới ánh mặt trời. Tiếng trống trận dồn dập hòa lẫn với tiếng tù và rền vang. Một bầy sinh vật nặng nề bước ra khỏi đám mây bụi, đám thú chiến đóng yên cương đầy đủ, được nhóm binh sĩ cầm gậy có ngạnh chỉ huy. Phủ trên người lớp giáp da thuộc cùng những chiếc sừng-ngà cong vút, chúng là dàn máy công thành sống dư sức húc sập vòng tường vốn đã yếu ớt của Vekaura.

Phía sau lũ thú chiến là đội quân của các bộ tộc đang tụ tập dưới đủ loại tượng vật tổ tiến lại gần thành phố. Ít nhất năm trăm chiến binh; bộ binh hạng nhẹ, kỵ cung thủ, và trọng giáp binh cầm khiên dày rìu lớn. Nasus cảm nhận được có một ý chí đang thống trị chúng, bởi hầu hết những bộ tộc này thường sẽ lao vào cắn xé nhau ngay khi vừa gặp mặt rồi.

Ma thuật cổ đại đang hiện diện, mọi giác quan của ông đều được tăng cường. Ông nghe thấy hàng trăm giọng nói láo nháo bên dưới, nhìn thấy đủ loại tì vết trên cái đĩa đồng và cảm thấy từng hạt cát dưới chân. Mùi máu sắc lạnh xộc lên mũi. Nó mang theo chút vết tích của những ngày xưa cũ và tiếng vọng xa xăm của một thời đại đã biến mất từ lâu. Nó kêu gọi ông từ đâu đó phía đông thành phố, tại đúng nơi đống tàn tích này tiếp giáp với những ngọn đồi.

Kẻ nắm giữ thứ ma thuật vừa thức tỉnh đó đang trôi nổi phía trên đoàn quân; một thực thể kết hợp giữa năng lượng sáng lóa và sức mạnh bóng tối bị trói buộc bởi những sợi xích sắt lạnh lẽo và những mảnh vỡ của một quan tài cổ. Kẻ đã phản bội Shurima và đẩy đế chế này vào cảnh diệt vong.

Ngôi nhà xập xệ ở rìa đông Vekaura thậm chí còn không có một cái mái tử tế, chỉ có bốn bức tường lún sâu trong cát và vài cành cây lợp tạm bợ cho chút bóng râm lúc ngày nóng nực nhất. Hành trang của Taliyah đặt sẵn một góc, sẵn sàng lên đường bất kỳ lúc nào. Bao da nước và sữa dê treo hai bên, cùng với lượng thịt khô đủ dùng trong hai tuần đã được gói ghém cùng quần áo và bọc đá sỏi thu thập từ khắp mọi nơi trên Valoran.

Taliyah quỳ bên cạnh người phụ nữ bị thương đang nằm trong bóng râm và gỡ lớp băng vải ra. Cô rụt tay lại khi thấy máu khô quanh đường chỉ dùng để khâu vết thương. Nhìn như nhát cắt của một thanh kiếm, nhưng cô không chắc được. Taliyah đã cởi giáp và tắm rửa cho cô ta hết sức có thể. Ngoài vết thương chí mạng bên sườn, cả người cô ta chằng chịt những sẹo. Tất cả đều đến từ cuộc đời chinh chiến, và chỉ có một cái ở sau lưng. Dù là ai, cũng chỉ có duy nhất một kẻ địch không mặt đối mặt với cô ta. Taliyah thay băng trong lúc bệnh nhân của cô rên lên đau đớn. Cơ thể cô ta đang cố hồi phục sau quãng thời gian chỉ có Đấng Sáng Tạo mới biết là bao lâu đơn độc chịu đựng trên sa mạc.

“Cô là một chiến binh,” Taliyah nói, “Tôi biết mà, hãy chiến đấu cho sinh mạng của cô đi.”

Taliyah không biết người phụ nữ có nghe được cô nói gì không, nhưng biết đâu những lời đó lại giúp linh hồn cô ta tìm đường về với thể xác thì sao? Trong bất kỳ trường hợp nào, nói chuyện cùng ai đó cũng tốt; ngay cả khi họ không trả lời – trừ khi bạn tính đến những lời mê sảng về hoàng đế và cái chết.

Kể từ khi chia tay Yasuo ở Ionia, Taliyah đã luôn cố gắng di chuyển và không dừng chân ở đâu lâu hơn cần thiết. Cô đã ở lại Vekaura lâu hơn dự kiến. Đáng ra là chỉ ghé qua để mua đồ tiếp tế, nhưng cô không thể rời đi trong lúc người phụ nữ còn đang bất tỉnh được. Thôi thúc tìm kiếm gia đình lấn át tất cả, nhưng Đấng Sáng Tạo đã dạy rằng mọi người đều ràng buộc lẫn nhau trong tấm vải cuộc đời. Một sợi chỉ rối, đến lúc nào đó, sẽ ảnh hưởng đến tất cả. Taliyah ở lại vì lời hứa với người đang trọng thương kia, dù cứ mỗi giây phút không theo dấu gia đình đều giày vò tâm can cô.

Taliyah vuốt mớ tóc đen lòa xòa trên trán người phụ nữ và ngắm nhìn gương mặt cô ta, cố gắng tưởng tượng ra lý do cô ta bị thương và chôn vùi nơi cồn cát ngoài rìa Sai. Cô ta thật đẹp, nhưng có những đường nét rắn rỏi mà tình trạng bất tỉnh hiện giờ cũng không thể che mờ. Làn da nâu rám nắng của người bản địa Shurima, và đôi mắt, trong vài lần thoáng mở, màu lam sắc sảo.

Cô thở dài nói, “Chà, chắc tôi chẳng làm được gì nhiều đến khi cô tỉnh dậy đâu.”

Taliyah nghe tiếng ầm ầm kéo đến từ phía tây. Cô chạy ra cửa sổ khi âm thanh của đá nghiến trên đá vang lên. Mới đầu cô nghĩ đó là một trận động đất, nhưng nó giống đá lở hơn, bởi cô đã từng đối mặt với hiện tượng này không ít lần rồi. Xét đến tình trạng mấy ngôi nhà ở Vekaura, cô cũng chẳng ngạc nhiên gì nếu đó là tiếng một căn đang đổ sụp đâu. Hy vọng không ai bị thương.

“Chuyện gì đang xảy ra đây…? Ta đang ở đâu?”

Taliyah quay lại khi nghe giọng người phụ nữ. Cô ta đã gượng ngồi dậy, nhìn quanh và cố với thứ gì đó.

“Cô đang ở Vekaura,” Taliyah đáp. “Tôi tìm thấy cô ngoài kia, đang chảy máu gần chết.”

“Kiếm của ta đâu?” người phụ nữ hỏi.

Taliyah chỉ vào bức tường phía sau, nơi thứ vũ khí kỳ lạ bọc trong da thuộc treo dưới một tấm chăn dệt hình cánh chim.

“Ở đó,” Taliyah trả lời, “Lưỡi của nó cực kỳ sắc và tôi không muốn vô tình làm đứt tay mình khi mang nó đi lung tung đâu.”

“Nhóc là ai?” giọng người phụ nữ đầy nghi hoặc.

“Tôi là Taliyah.”

“Ta biết nhóc không? Bộ tộc của nhóc có muốn ta chết không?”

Taliyah nhăn mặt. “Không. Tôi không nghĩ vậy. Chúng tôi chăn nuôi. Dệt vải nữa. Chúng tôi chẳng muốn ai chết cả.”

“Thế ra mấy người là nhóm thiểu số đấy,” người phụ nữ nói. Cô chầm chậm thở ra, và Taliyah chỉ có thể tưởng tượng xem vết thương bên sườn cô ta tệ đến mức nào. Cô ta đứng lên, cau mày khi những sợi chỉ căng ra.

“Sao lại có ai muốn cô chết được?” Taliyah thắc mắc.

“Vì ta đã hạ sát rất nhiều người,” Sivir đáp lời, cố gắng đứng thẳng. “Đôi khi ta được trả công. Có lúc thì do chúng ngáng đường ta. Nhưng hiện giờ, nó thường là bởi chúng nổi giận khi ta bảo mình sẽ không trở lại.”

“Trở lại đâu?”

Người phụ nữ hướng đôi mắt lam sắc sảo vào Taliyah, sâu trong đó cô thấy sự đau đớn và rối loạn.

“Thành phố,” cô ta nói. “Thành phố trỗi dậy từ lòng cát.”

“Vậy ra nó là thật?” Taliyah hỏi. “Shurima cổ thực sự tái sinh? Cô đã thấy nó à?”

“Bằng chính đôi mắt này,” người phụ nữ đáp. “Giờ có rất nhiều người ở đó rồi. Ta chủ yếu thấy những bộ tộc ở phía đông và phía nam, nhưng những kẻ khác sẽ đến sớm thôi.”

“Người ta đang tới đó?”

“Ngày một nhiều hơn.”

“Vậy sao cô lại không muốn quay lại.”

“Nhóc làm ta phát mệt với đủ thứ câu hỏi rồi đó.”

Taliyah nhún vai. “Hỏi là bước đầu trong hành trình thấu hiểu.”

Người phụ nữ mỉm cười gật đầu. “Ý hay đấy, nhưng cẩn thận với người nhóc hỏi đó. Có kẻ thích trả lời bằng vũ lực hơn.”

“Cô có thế không?”

“Thỉnh thoảng, nhưng vì nhóc đã cứu mạng ta, ta sẽ bỏ qua.”

“Thế cho tôi biết một điều nữa thôi.”

“Điều gì?”

“Tên cô đó.”

“Sivir,” người phụ nữ nói qua cơn đau.

Taliyah biết cái tên này; hiếm ai ở Shurima lại không, và cô đã biết rõ người phụ nữ này là ai từ lúc nhìn thấy thanh thập tự kiếm. Trước khi cô kịp đáp lời, một âm thanh khác nối tiếp tiếng ầm ầm của đá rơi. Cô hiếm khi nghe thấy thứ gì tương tự ở quê nhà, nhưng trên bờ biển Ionia, giữa sa trường Noxus, và nơi đất hoang băng phủ Freljord, cô đã bắt gặp rất nhiều.

Taliyah liếc nhìn đống hành lý, tính toán thời gian để rời khỏi Vekaura. Sivir cũng nghe thấy âm thanh đó, dồn hết sức đứng dậy. Nỗ lực đó là quá sức với cô. Cô rên rỉ, mồ hôi nhỏ giọt trên trán.

“Cô không đi đâu được đâu,” Taliyah lo lắng nói.

“Nhóc nghe thấy không?” Sivir hỏi.

“Tất nhiên,” Taliyah đáp. “Nghe như có rất nhiều người đang la hét.”

Sivir gật đầu. “Chính xác là thế đấy.”

Lửa đang đổ xuống như mưa từ bầu trời.

Những ngôi sao chổi màu lam trắng vọt khỏi đôi tay đang dang rộng của Xerath, vạch thành đường vòng cung như được một cỗ máy bắn đá tung ra. Cái đầu tiên rơi xuống khu chợ, nổ tung như vẫn tinh. Lửa thiêu tuôn trào khắp nơi. Những thi thể cháy đen bị hất lên không như tro bếp. Gió thổi ào ạt mang theo tiếng cười khinh miệt của Xerath, và cả sự điên loạn khoái trá trước nỗi đau của kẻ khác.

Sao trước đây ta lại không thấy được sự tà ác trong hắn nhỉ?

Nasus nghe tiếng la hét vang dậy, cơn giận trước đây với người dân thành phố tan biến như sương mai trên ốc đảo. Bốn bức tường bị đám thú chiến phá tan, chân chúng dậm trên đất khiến nó rung rinh như địa chấn. Đội lính mang giáp nhẹ tràn vào trong nội thành. Chúng hú hét bằng cả tá ngôn ngữ khác nhau, sốt sắng được bắt đầu cuộc tàn sát.

Nasus cầm rìu bước xuống điện, nhảy bốn bước một cho đến khi chạm đất. Hàng trăm người sợ hãi ùa vào quảng trường chính từ phía rìa tây thành phố. Những tiếng thét khát máu và tiếng vũ khí va chạm đuổi theo sau họ. Những người dân đang hoảng sợ tìm chỗ trú ẩn trong các ngôi nhà hai bên quảng trường, chốt chặt cửa, đóng kín cửa sổ, hy vọng có được chút an toàn. Nasus đã đi qua những con phố đẫm máu của nhiều thành phố bị chiếm đóng, đủ để biết các chiến binh sẽ trở nên tàn bạo ra sao sau khi thắng trận. Xerath sẽ khiến tất cả đàn ông, đàn bà và trẻ em ở Vekaura gục ngã dưới lưỡi kiếm của lũ tay sai.

Thêm nhiều cầu lửa nữa giáng xuống như sấm sét. Không khí ngập tiếng la hét và mùi thịt cháy. Đá nứt nẻ và đổ xuống rào rào trước đợt tấn công ma thuật. Khu chợ cháy trụi, bốc từng cột khói đen che khuất bầu trời.

Nasus len qua đám đông đang kinh hãi, sải những bước chắc chắn về phía đông, theo dấu mùi máu đầy sức mạnh ông đã ngửi được. Giáo chủ là đồ giả, máu của hắn yếu ớt và phai nhạt sau hàng ngàn năm, nhưng thứ ông đã cảm thấy…? Chúng thật mạnh mẽ. Ông có thể nghe tiếng trái tim đập như sấm động trong một lồng ngực phàm trần. Người này xuất thân từ dòng dõi hoàng đế và nữ hoàng chiến binh; những người đàn ông và đàn bà đầy tham vọng và quyền lực. Đó là dòng máu của một anh hùng.

Người ta réo gọi tên ông cầu xin giúp đỡ. Ông lờ đi, ông đang có một nhiệm vụ cao cả hơn. Mặt trời đã tái tạo ông khỏi vòng sinh tử để phục vụ Shurima, để chiến đấu cho người dân của nó và bảo vệ họ khỏi kẻ thù. Giờ ông đang có một mục đích, nhưng để mặc cư dân Vekaura diệt vong gợi lên cảm giác tội lỗi quen thuộc trong tim ông.

Ngươi sẽ còn bỏ mặc bao nhiêu người chết nữa đây?

Gạt suy nghĩ này sang bên, ông mở đường qua những đống đổ nát trên con phố. Hầu hết nhà cửa đều đã bị sa mạc chôn vùi, chỉ còn chút nền móng và mấy cái cột gãy đôi nhô lên khỏi cát. Đám thú hoang bỏ chạy khi thấy ông trong lúc ông tiến gần đến tiếng nhịp tim dồn dập kia. Thành phố bắt đầu thu hẹp lại, và càng thêm nhiều công trình bị cát che lấp.

Cuối cùng, ông dừng chân trước một kiến trúc xiêu vẹo chắc từng là nhà tắm công cộng, tường có nó dày hơn và chắc chắn hơn. Ông cúi đầu tiến vào, ngửi thấy mùi mồ hôi và máu của hai người trong đó. Một người trẻ, và một người có linh hồn già cỗi đến mức ông như thể đang đối diện với một người bạn từng bước dưới cùng một mặt trời với ông.

Cô gái trẻ xuất hiện nơi cửa vào, khoác chiếc áo choàng từ một vùng bên kia đại dương phía đông – chính là cô bé ông đã nói chuyện cùng ở khu ngoại vi. Ông cảm nhận được nỗi sợ của cô, và cả sự kiên quyết trong đôi tay đang vẽ thành những hình cong cong lặp đi lặp lại. Đất run rẩy, đá nhảy múa quanh chân cô và rũ bỏ lớp cát phủ. Phía sau, Nasus thấy một phụ nữ đang cố chống tay vào tường để đứng vững, áo chẽn nhuộm đỏ. Một vết thương sâu, nhưng chưa đủ để gây chết người.

“Ta là Nasus, Nhà Thông Thái Sa Mạc,” ông nói, nhưng từ ánh nhìn của người phụ nữ thì cô đã biết ông là ai rồi. Miệng cô mở rộng vì kinh ngạc, nhưng cô không di chuyển.

“Tránh ra đi, cô bé,” Nasus nói.

“Không, tôi sẽ không để ông làm hại cô ấy đâu. Tôi đã hứa rồi.”

Nasus thu rìu và bước lên một bước. Cô gái lùi lại, mặt đất vẫn đang rung rinh dưới chân. Vôi vữa dần dần tróc ra khỏi tường. Những vết nứt lan trên mặt đá, hướng thẳng tới phần còn lại của mái nhà. Lần gần nhất ông đối mặt với một kẻ có sức mạnh tương tự, ông chỉ là người thường và suýt chết. Người phụ nữ bị thương choáng váng nhìn chăm chăm vào cô gái. Rõ ràng là cô ta không biết gì về khả năng của bạn đồng hành.

“Cô bé có sức mạnh phá hủy đất đá của Shurima,” Nasus nhận xét.

Cô gái nhướn mày. “Đúng. Tốt nhất là ông biến đi trước khi tôi phá hủy ông.”

Nasus mỉm cười trước lòng can đảm của cô. “Cô bé sở hữu trái tim của một anh hùng, nhưng không phải người ta tìm. Ma thuật của cô rất mạnh, nếu ta là cô, ta sẽ rời thành phố trước khi Xerath cướp mất nó đấy.”

Cô gái tái mặt. “Tôi không đi đâu cả. Tôi đã hứa sẽ bảo vệ Sivir, và Đấng Sáng Tạo ghét kẻ thất hứa.”

“Nếu cô bé là người bảo hộ cho cô ta thì phải biết ta không ở đây để làm hại ai cả chứ.”

“Thế ông muốn gì?”

“Ta ở đây để cứu cô ta.”

Người phụ nữ đang băng bó bước đến đứng cạnh cô gái trẻ. Dù cô trông đang rất đau đớn, Nasus vẫn thấy ấn tượng trước sức chịu đừng của cô. Tất nhiên, ông còn trông đợi gì từ một người đang chảy trong mình dòng máu của Shurima Cổ chứ?

“Xerath là ai?” cô hỏi.

“Một pháp sư hắc ám đã biết quá nhiều về sự tồn tại của cô.”

Người phụ nữ gật đầu quay sang Taliyah, đặt tay lên vai cô bé.

“Mạng ta là do nhóc cứu, nhưng ta sẽ không mang nợ ai cả,” cô nói, “nên cứ coi lời hứa của nhóc hoàn thành rồi đi. Ta có thể tự lo tiếp.”

Khuôn mặt cô bé lộ rõ nét nhẹ nhõm, nhưng vẫn do dự.

“Cảm ơn, nhưng cô đi còn không nổi nữa là,” Taliyah đáp. “Ít nhất cũng để tôi đưa cô ra khỏi thành phố.”

“Thỏa thuận vậy đi,” Sivir biết ơn nói rồi quay sang Nasus. Cô giơ tay ra, để lộ thanh thập tự kiếm bằng vàng với viên ngọc lục bảo ở chính giữa. Một vũ khí mà không người thường nào có thể mang dễ dàng như vậy.

“Gần đây ta đã có đủ người cứu rồi,” cô nói. “Họ luôn muốn nhận lại thứ gì đó. Nói ta nghe xem, ông thực sự muốn gì?”

“Giữ cô sống sót,” Nasus đáp.

“Ta có thể làm điều đó mà không cần ông giúp.”

“Vết thương trên sườn cô lại nói cho ta điều ngược lại. Cô…”

“Cái này?” Sivir ngắt lời. “Chỉ là chút bất đồng với vài kẻ ngu ngốc không chịu chấp nhận câu trả lời không. Tin ta đi, ta từng bị nặng hơn thế này mà vẫn thoát. Và ta không cần bảo vệ. Số phận đang trông chừng ta những ngày này, không cần biết ta làm gì đi nữa.

Nasus lắc đầu. Người thường biết quá ít về định mệnh.

“Tương lai không khắc trong đá,” ông giải thích. “Nó là một con sông có thể đổi dòng bất kỳ lúc nào. Kể cả những người được các vì sao chiếu mệnh cũng có thể thấy nguồn nước sinh mệnh của họ khô cạn nếu họ không cẩn thận.”

Ông chỉ vào vũ khí của Sivir, “Cô có biết thanh kiếm này từng thuộc về ai không?”

“Quan trọng gì chứ?” Sivir đáp trả. “Giờ nó là của ta.”

“Đây là Chalicar, thanh kiếm rèn bởi Setaka, Nữ Hoàng Chiến Binh Của Đoàn Thăng Hoa; nếu có đủ những kẻ như ta hiện hữu để gọi là đoàn. Ta từng vinh dự kề vai chiến đấu với Setaka ba thế kỷ. Chiến công của bà đã trở thành huyền thoại, nhưng chắc cô không biết tên bà.”

“Kẻ suy vong sẽ bị quên lãng,” Sivir nhún vai.

Nasus bỏ qua thái độ lạnh lùng của Sivir đối với người chiến hữu của mình và nói, “Một ẩn sĩ sa mạc từng bảo bà sẽ thấy mặt trời lên vào ngày đế chế Shurima thống trị toàn thế giới. Nó khiến bà nghĩ bà là bất bại, bởi chúng ta vẫn chưa thể chinh phục thế giới, song cuối cùng bà lại bị quái vật sát hại khi đêm diệt vong phủ xuống Icathia. Ta đã ở bên khi sự sống rời bỏ bà và đưa bà vào giấc ngủ ngàn thu với cây kiếm đặt trên ngực.”

“Nếu ông đến lấy nó lại thì hai ta có chút rắc rối đấy.”

Nasus quỳ một chân xuống và bắt chéo tay qua ngực.

“Cô thuộc Huyết Thống Thăng Hoa. Vũ khí đó thuộc về cô, bởi dòng máu hoàng đế chảy trong huyết quản cô. Nó đã hồi sinh Azir và Shurima, nó chắc chắn phải có ý nghĩa gì đó.”

“Không,” Sivir giật giọng. “Ta chưa bao giờ đòi Azir chữa lành. Ta không nợ ông ta gì cả. Ta không muốn dây dưa gì đến ông hay gã Xerath kia.”

“Mong muốn của cô không thực tế,” Nasus nói. “Xerath sẽ tiêu diệt cô dù cô có đón nhận định mệnh của mình hay không. Hắn đến đây để kết thúc huyết thống Azir một lần và mãi mãi.”

“Azir muốn gì ở cô ấy?” Taliyah chen vào. “Và ông ta sẽ làm gì khi trở lại? Ông ta có muốn biến chúng tôi thành nô lệ nữa không?”

“Con bé hỏi nhiều lắm,” Sivir nói.

Nasus ngần ngừ trước khi trả lời.

“Nói thật, ta không biết dự định của Azir. Ngài chống lại Xerath là đủ với ta rồi. Giờ cô có thể ngoan ngoãn nạp mạng, hoặc chọn sống để chiến đấu.”

Sivir vén áo chẽn lên để lộ lớp băng vải ướt máu và nhăn nhó cười. “Ta chưa bao giờ ngoan ngoãn làm điều gì cả, nhưng ta cũng không định chiến đấu với bất kỳ thứ gì nguy hiểm hơn ngủ một giấc đâu.”

“Cô phải sống,” Nasus đứng thẳng dậy. “Và cô cần sẵn sàng.”

“Sẵn sàng cho cái gì?” Sivir hỏi trong lúc cô và Taliyah bắt đầu thu dọn đồ đạc.

“Trận chiến vì Shurima,” Nasus nói. “Nên giờ chúng ta phải chạy ngay. Lính của Xerath đang tàn sát mọi người ở Vekaura.”

“Nơi này thì có gì đặc biệt?” Taliyah vừa xách hành lý lên vừa hỏi.

“Chúng đang tìm cô ta,” Nasus trả lời.

Sivir đanh mặt lại và thở dài, “Nasus phải không? Ta đã nghe những câu chuyện về ông từ khi còn bé. Những câu chuyện về các cuộc chiến anh hùng. Chúng đều nói rằng ông và em trai là người bảo hộ cho Shurima, đúng không?”

“Đúng,” Nasus đáp. “Renekton và ta đã chiến đấu cho Shurima suốt nhiều thế kỷ.”

Sivir ngập ngừng bước lại chỗ ông, khuôn mặt mang nét kiên tâm vương giả từng có ở Azir vào ngày ngài lệnh cho các tư tế chuẩn bị đĩa mặt trời cho nghi thức Thăng Hoa, thách thức truyền thống hàng trăm năm nay.

“Thế giờ hãy chiến đấu vì Shurima đi,” Sivir ra lệnh, quyền uy như bất kỳ vị hoàng đế nào. “Con trai con gái sa mạc đang chết ngoài kia trong lúc chúng ta chuyện trò. Nếu ông là người anh hùng cả đời tôi đã nghe tiếng, thì bổn phận của ông là ra đó và cứu sống nhiều sinh mạng nhất có thể.”

Đây không phải kết cục của cuộc gặp mặt mà Nasus tưởng tượng ra, nhưng lời nhắc nhở của Sivir về bổn phận đã thổi bùng đống tro tàn âm ỉ quá lâu trong lồng ngực ông. Ngọn lửa tráng chí lan khắp người, chỉ đến lúc này ông mới hiểu mình đã lạc lối ra sao suốt bao năm trường cô độc kể từ ngày Shurima sụp đổ.

“Ta hứa với cô,” Nasus đặt tay lên miếng bùa treo trên sợi dây da quanh cổ. “Nếu cả hai rời đi ngay lập tức, ta sẽ làm tất cả những gì có thể để bảo vệ người dân Vekaura.”

Viên đá nằm giữa miếng bùa là ngọc thạch màu xanh biển với những vân vàng nhạt trên bề mặt. Một tia sáng yếu ớt tỏa ra từ bên trong, chầm chậm nhấp nháy như một trái tim đang đập.

Ông đưa nó cho Sivir và nói, “Đeo cái này sẽ giúp cô tránh tầm mắt của Xerath. Nó không tồn tại vĩnh viễn, nhưng chắc là đủ lâu.”

“Đủ lâu để làm gì?” Sivir hỏi.

“Để ta tìm lại được cô,” Nasus nói rồi quay đi.

Ông tách khỏi Sivir và Taliyah trước khi kịp đổi ý. Ông biết cơ hội duy nhất để họ sống sót là thu hút đám chiến binh của Xerath về phía mình. Họ nhìn theo ông rời đi, nhưng ông không ngoái lại. Lửa cháy lan giữa lòng thành phố, Nasus chỉ việc đi theo tiếng la hét của cư dân Vekaura.

Cơn giận ngày càng tăng khi ông băng qua thi thể những người đàn ông và phụ nữ bị đám chiến binh sát hại – lại thêm nhiều cái chết nữa ghi vào món nợ đang chờ được trả giữa ông và Xerath. Lần cuối ông đối mặt với tên pháp sư, em trai ông đã ở bên cạnh, một làn sóng sợ hãi tràn qua ông.

Chúng ta đã không thể đánh bại hắn cùng nhau. Làm sao ta đánh bại hắn một mình được đây?

Nasus thấy một nhóm năm chiến binh đứng chắn lối thoát khỏi quảng trường. Chúng đang quay lưng lại với ông, nhưng ngay lập tức quay lại khi nghe tiếng rìu vung lên. Đáng ra chúng phải run rẩy khi chiến đấu với một Thể Thăng Hoa, nhưng ngọn lửa xanh của Xerath rực cháy trong mắt chúng, và chúng chẳng sợ gì cả.

Chúng tiếp đón ông bằng những thanh kiếm và cây giáo đẫm máu. Nasus quét ngang, cắt đôi ba tên chỉ bằng một nhát chém. Ông tung nắm đấm vào ngực một tên khác và ngoạm thẳng vào đầu tên còn lại. Chỉ một cú khập hàm, hắn bị loại khỏi vòng chiến. Nasus dừng lại nhìn khung cảnh mình vừa gây ra một lát rồi bước tiếp.

Ông tiến vào quảng trường và thấy những người dân còn lại của thành phố đang quỳ trước điện mặt trời, dập đầu như tế sao. Hàng đoàn lính đang giơ cao mũi giáo lên trời, hướng về vị thần sáng chói mà khủng khiếp trên đỉnh điện.

Thân thể rực cháy của tên pháp sư phản bội lơ lửng trên không, phần viền đĩa mặt trời chảy ra trước sức nóng thiêu đốt của Thể Thăng Hoa. Tay giáo chủ đang quằn quại gào thét trước mặt hắn.

“Lũ phàm nhân ngu ngốc,” Xerath tạo thêm nhiều vết thương khác trên người giáo chủ. “Sao ngươi lại tự nhận là dòng dõi của một hoàng đế vô giá trị như Azir?”

“XERATH!” tiếng gầm của Nasus vang vọng khắp quảng trường.

Đám chiến binh quay lại, nhưng không hề có ý định tấn công. Im lặng bao trùm, Nasus cảm nhận sự thù ghét đang tỏa ra từ Xerath tràn qua người ông như sóng triều. Phần còn lại của tay giáo chủ cháy thành tro trong chớp mắt, rồi bị cơn gió nóng vây quanh tên pháp sư cuốn đi. Nasus sải bước vào quảng trường, rìu giương cao trước sự chứng kiến của hàng trăm cặp mắt.

“Tất nhiên là ngươi rồi,” giọng Xerath trở nên ngọt như mật, như hồi hắn chỉ là một người thường. “Còn ai ngoài tên hèn nhát đã nhốt ta dưới lòng đất cả thiên niên kỉ chứ?”

“Ta sẽ đưa ngươi trở lại đó,” Nasus quả quyết.

Cơ thể Xerath cháy sáng hơn. “Lúc đó ngươi có gã em trai yêu quý giúp đỡ. Nói ta nghe, ngươi đã gặp Renekton kể từ khi hầm ngục chung của chúng ta mở ra chưa?”

“Đừng nhắc tên cậu ấy,” Nasus gằn giọng.

“Ngươi có biết hắn đã trở thành cái gì không?”

Nasus không nói. Xerath bật cười, tiếng cười như những hỏa hồn đang loạn chiến.

“Hẳn là không rồi,” Xerath tiếp tục, ngọn lửa bập bùng trong niềm vui hắc ám. “Hắn sẽ làm thịt ngươi ngay khi nhìn thấy ấy chứ.”

Xerath lướt xuống dọc theo bức tường đổ nát của ngôi điện, lửa liếm quanh hắn rồi bật ra như đom đóm. Đám lính bị điều khiển đứng im như tượng. Đây không phải cuộc chiến mà người thường có thể xen vào.

“Sức mạnh trong ngươi là dành cho Azir,” Nasus chậm rãi bước về phía Xerath. “Ngươi không được mặt trời lựa chọn.”

“Renekton cũng thế, và hắn vẫn làm được đó thôi.”

“Đừng nhắc tên cậu ấy,” Nasus nói qua hàm răng nghiến chặt.

“Em trai ngươi thật yếu đuối, nhưng ngươi vốn đã biết rồi, đúng không?” Xerath lại gần hơn. “Hắn sụp đổ dễ hơn là ta tưởng. Chỉ cần nói cho hắn biết ngươi đã bỏ rơi hắn trong bóng tối thế nào. Ngươi đã khiến hắn mắc kẹt cùng kẻ thù và để mặc hắn chết ra sao.”

Nasus biết tên pháp sư đang chọc tức mình, nhưng nỗi căm hận che mờ tâm trí ông. Ông không còn muốn gì hơn ngoài việc đập nát thứ sức mạnh không thể tưởng tượng nổi đang ẩn chứa trong người Xerath. Họ đối mặt nhau giữa trung tâm thành phố, hai Thể Thăng Hoa; một chiến tướng hùng mạnh và một pháp sư quyền năng.

Nasus ra tay trước, người ông đang bất động bỗng chuyển sang tốc độ lóa mắt chỉ trong một nhịp thở. Đôi chân làm điểm tựa giúp ông bật lên không, cây rìu bổ thành vòng cung từ trên xuống. Lưỡi rìu đập thẳng vào ngực Xerath. Xích sắt vỡ tung sau cú va chạm.

Xerath bị đánh bay vào tường ngôi điện. Đất đá nứt toác, cát bụi trong hầm mộ nằm sâu bên dưới phun lên từ những vết rạn ngoằn ngoèo. Từng phiến đá lớn rớt xuống khỏi công trình đồ sộ đó. Tên pháp sư lao vụt trở lại, những chùm năng lượng bỏng cháy sáng rực hai bên cánh tay. Nasus gầm lên khi cả hai đâm sầm vào nhau với sức mạnh cuồng bạo, lửa của Xerath thiêu đốt cơ thể ông.

Sóng chấn động từ năng lượng ma thuật quét ra xung quanh, cuốn người bay như lá giữa cơn lốc. Những ngôi nhà gần đó đổ sụp khi luồng lực khủng khiếp đập tan bốn bức tường. Cư dân Vekaura bỏ chạy, cố tìm nơi an toàn trong trận chiến của các vị thần. Chẳng có gì cầm giữ họ nữa, lính của Xerath đã tan tác khắp thành phố. Cả rừng cột lửa phụt lên khi Xerath triệu hồi quyền năng huyền bí trong cơ thể và phóng bừa nó ra mọi nơi.

Nasus lăn sang bên khi một loạt thiên thạch dội xuống. Lạnh ngắt, nhưng thiêu đốt không khác gì lửa. Ông đứng dậy kịp lúc để vung rìu hất trả một loạt quả cầu sáng trắng đang rú rít lao đến. Xerath trôi nổi trên đầu ông, cười ha hả giữa quầng sét đang rạch chằng chịt quanh hắn. Nasus đâm vũ khí vào tên pháp sư để tung ra một luồng sức mạnh lão hóa. Xerath rống lên đau đớn và giận dữ, ngọn lửa nơi trái tim hắn rung rinh, nhưng không mờ đi chút nào.

Nasus nhảy xổ vào Xerath. Họ đụng nhau giữa không trung. Một lần nữa, ngôi điện mặt trời lại là nạn nhân. Vụ va chạm phá tan vòng tường ngoài và làm những khối đá to tướng trên đỉnh đổ nhào. Chúng đập rầm rầm xuống đất như cú đấm của những thủ vệ lăng mộ cổ xưa, khiến nó nứt ra để lộ hầm ngầm tăm tối bên dưới. Phần còn lại của đĩa mặt trời lăn khỏi mái điện, như thể đồng xu do một tên khổng lồ tung ra vậy. Nó vỡ nát khi chạm vào nền đá, những mảnh kim loại sáng loáng bắn tung về mọi hướng. Bắp đùi Nasus bị một mảnh như thế cắm vào. Ông rút nó ra, để máu chảy ròng ròng ra chân.

Xerath đứng lên khỏi đống đá và bắn một tia lửa nhạt vào ngực Nasus. Ông loạng choạng lùi về sau, miệng rên rỉ. Lại thêm một dòng thác năng lượng sáng lòa tung ra, lần này thẳng vào tim Nasus. Cơn đau nhấn chìm tất cả làm ông khuỵu xuống, da bị thiêu cháy bong tróc từng mảng. Nasus có thể đơn thương độc mã chiến đấu cùng một đội quân, nhưng Xerath đâu phải đối thủ tầm thường. Hắn là Thể Thăng Hoa nắm giữ sức mạnh đánh cắp từ mặt trời và quyền năng của ma thuật hắc ám.

Ông ngẩng đầu lên nhìn thành phố đang cháy rụi xung quanh. “Người ngươi tìm kiếm không có ở đây và giờ đã được che giấu khỏi tầm mắt ngươi rồi.”

“Lũ con cháu của Azir không thể trốn tránh ta mãi được đâu,” Xerath đáp. “Ta sẽ tìm ra chúng và chấm dứt cái huyết thống không ra gì đó.”

Nasus giơ cao rìu, viên đá quý trên lưỡi tỏa ra một lực lượng to lớn.

“Ta sẽ chết trước khi cho phép điều đó xảy ra.”

“Như ý ngươi thôi,” Xerath vung tay liên tục để phóng ra một cơn mưa ánh sáng. Nasus làm mọi thứ có thể, nhưng không thể ngăn hết tất cả.

Xerath lướt về phía ông và nói, “Ta đã bảo em trai ngươi hết lần này đến lần khác về sự phản bội và ghen tị ngươi cố giấu hắn. Hắn đã nguyền rủa ngươi và khóc lóc với ta sẽ bẻ gãy tứ chi của ngươi ra sao.”

Nasus gầm lên, đứng bật dậy. Một cột lửa bùng lên dưới chân Xerath, tên pháp sư thét lớn khi ngọn lửa rực rỡ của Muôn Mặt Trời nuốt chửng hắn.

Nhưng thế là chưa đủ. Không bao giờ đủ. Trong trận chiến lần trước, Nasus và Renekton đều đang ở đỉnh cao sức mạnh. Giờ Nasus chỉ còn là cái bóng của chính mình, trong khi quyền năng của Xerath đã tăng tiến qua hàng thế kỷ.

Tên pháp sư rũ mình thoát khỏi đòn tấn công tuyệt vọng cuối cùng của Nasus, giờ ông chẳng còn gì. Ma thuật của Xerath nhấc bổng ông lên, xoay vòng vòng và ném ông vào đống tàn tích của ngôi điện. Ông nghe được cả tiếng những lóng xương kêu răng rắc như củi khô.

Nasus nằm im giữa đống đá vụn. Chân ông đã gãy. Cánh tay trái đã trở nên vô dụng. Ông cố dùng cánh tay lành lặn để gượng đứng dậy, nhưng cơn đau bỏng cháy trào lên trong xương sống đang nứt rạn. Cơ thể ông không thể phục hồi kịp những vết thương này, mà ông thì không còn thời gian nữa.

“Xem ngươi đã suy yếu đến thế nào kìa, Nasus,” Nasus lại gần ông, những giọt lửa nhảy múa trên đầu ngón tay. “Ta sẽ rủ lòng thương nếu như ta không căm ghét ngươi vì những gì ngươi đã làm với ta. Tinh thần của ngươi đã tàn phai suốt những năm dài lang thang trong cô độc với đủ thứ gánh nặng trên vai.”

“Thà thế còn hơn làm một kẻ bội ước,” Nasus ho ra một búng máu. “Kể cả khi có được sức mạnh, ngươi vẫn chỉ là một tên phản phúc, một gã nô lệ.”

Ông cảm nhận được cơn cuồng nộ của Xerath và khoái trá tận hưởng nó. Giờ thì ông chỉ làm được có thế.

“Ta không phải nô lệ,” Xerath nói. “Hành động cuối cùng của Azir là trả tự do cho ta.”

Nasus choáng váng. Xerath là người tự do? Thật vô lý…

“Thế sao lại có đủ thứ chuyện như vậy? Sao ngươi phản lại Azir?”

“Azir là kẻ ngu ngốc. Món quà của hắn đưa ra quá trễ,” Xerath đáp.

Nasus đau đớn rên rỉ. Những mảnh xương gãy trên vai bắt đầu liền lại. Ông thấy sức mạnh quay trở lại nơi cánh tay, nhưng vẫn giả bộ như không.

“Ngươi sẽ làm gì sau khi ta chết?” Nasus hỏi. “Shurima sẽ biến thành cái gì nếu ngươi làm hoàng đế?”

Ông cố nén cơn đau khi phép màu trong da thịt làm công việc của nó: xóa bỏ thiệt hại Xerath đã gây ra.

Tên pháp sư lắc đầu.

“Ngươi nghĩ ta không thấy được cơ thể ngươi đang tái tạo sao?” hắn mỉa mai.

“Vậy xuống đây và đánh với ta đi!” Nasus hét lên.

“Ta đã tưởng tượng ra cảnh ngươi chết cả ngàn lần,” Xerath càng bay lên cao khỏi ngôi điện. “Nhưng không phải trong tay ta.”

Những bức tường không còn gì chống đỡ lung lay sắp đổ bất kỳ lúc nào quanh người Nasus. Song ông mặc kệ và nhìn theo tên pháp sư đang xa dần.

“Đồ Tể Sa Mạc sẽ có phần của hắn,” Xerath nói, người hắn tỏa sáng hơn cả đĩa mặt trời. Đất đá và cát bụi từ bên trên tuôn xuống như mưa. “Và ta sẽ ở đó để xem hắn róc thịt ngươi bằng móng vuốt của mình.”

Những sợi xích lửa bung khỏi tay tên pháp sư, quất vào bức tường đang run rẩy, giọng hắn trầm trầm, “Nhưng đến khi đó, ta sẽ chôn vùi ngươi dưới cát như ngươi đã từng làm với ta.”

Xerath cháy sáng như một vì sao mới. Dòng thác đá ầm ầm đổ xuống trong lúc bầu trời rót ngọn lửa chết chóc ngập tràn Vekaura.

Đất tách làm đôi, đá như con sóng thần đổ ập lên đầu Nasus. Bốn bức tường điện sụp xuống, chôn vùi ông dưới hàng trăm tấn mảnh vụn.

Đằng sau bóng tối, chính là ánh sáng.

Một dải rực rỡ, nóng rực. Nắng sao?

Mới đầu, ông không chắc đây là thật hay chỉ là trò đùa của tâm trí để xoa dịu thân thể sắp lụi tàn.

Đây là cách một Thể Thăng Hoa từ trần ư?

Không. Không phải cái chết. Nắng vàng ngập tràn thị giác, hơi ấm vuốt ve làn da. Ông chuyển mình, duỗi chân và xoay vai. Tứ chi đã được tái tạo, thế nghĩa là ông đã ở trong bóng tối một thời gian khá dài. Dù hồi phục rất nhanh, nhưng ông không biết mình đã bất tỉnh bao lâu nữa.

Mà có lâu thế nào thì cũng là quá lâu.

Xerath đã tự do và mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Nasus ngẩng lên, lớp đá phía trên ông tạo thành một mái vòm hoàn hảo, với bề mặt gợn sóng và ấm áp khi chạm vào. Giữa cảnh tranh tối tranh sáng, ông vẫn nhìn ra những hoa văn cuộn xoáy như thuốc vẽ hòa trộn trong bảng pha màu của họa sĩ. Ông dộng tay vào dải sáng đó hết lần này đến lần khác đến khi đá nứt ra, làm rơi xuống những viên bị nhiệt độ cao làm thủy tinh hóa. Ánh sáng ùa vào, qua đó ông thấy cả ngôi điện giờ chỉ còn là đống gạch vụn nát. Nasus cúi xuống nhặt lên một mảnh của mái vòm đã bảo vệ ông. Ông xoay xoay nó trên tay, có thứ vật liệu chắc chắn không xuất hiện trong đá lẫn vào đó.

Cho nó vào trong áo chẽn, ông sải bước rời khỏi tàn tích của ngôi điện. Cơn gió than van thở dài, mang theo lời thì thầm của người chết.

Thành phố đã biến mất, hay ít nhất là những gì cư dân ở đây xây nên trên tàn tích cũ. Nasus thấy nhiều chỗ đất đá bị đội lên, cùng một kiểu gợn sóng như mái vòm đã cứu mạng ông. Từng dải nhấp nhô như thủy triều bị đóng băng giữa chừng vậy.

Bên dưới đợt sóng đó, được che chở khỏi ngọn lửa chết người của Xerath, là vài chục cư dân Vekaura. Mới đầu có một đến hai người bước ra, rồi một nhóm nhỏ, mắt hấp háy vì nắng và kinh ngạc trước sự sống sót kỳ diệu này.

Nasus khẽ gật đầu nói, “Shurima phải cảm ơn cháu, Taliyah,” rồi xoay người rời khỏi thành phố.

Phần còn lại của Vekaura đã trở về với lớp vỏ tàn tạ từng có như lần cuối Nasus tới đây. Tường đổ, nền móng tan tành và những cột trụ trơ trọi như cây khô trong khu rừng chết. Ông đã thấy cảnh này trước đây; sau cuộc chiến với Xerath vào ngày Shurima sụp đổ. Cảm giác tội lỗi đã khiến ông quay lưng với thế giới, nhưng giờ ông sẽ không làm vậy nữa.

Xerath nói về Renekton như một con quái thú khát máu, nhưng Nasus biết rõ em trai mình hơn tên pháp sư kia chứ. Xerath chỉ nhìn thấy thứ Renekton đã biến thành mà quên đi người chiến binh cao quý đang ẩn bên dưới. Một người đã quên mình hiến dâng mạng sống vì anh em. Một chiến binh đã sẵn sàng hy sinh tất cả để cứu quê hương khỏi tên phản bội. Xerath đã quên tất cả, nhưng Nasus thì không bao giờ.

Nếu Renekton còn sống, thì phần nào trong cậu ta hẳn phải còn nhớ vị anh hùng xưa kia. Nếu Nasus có thể chạm tới đó, ông có thể cứu rỗi em trai khỏi hố sâu điên loạn. Nasus từ lâu đã tin rằng một ngày ông sẽ đối mặt với Renekton, và ông luôn tưởng tượng ra cuộc đụng độ sẽ kết thúc với cái chết của một trong hai người.

Giờ thì khác rồi. Giờ ông đã có cho mình mục đích. Huyết thống của Azir vẫn tiếp nối, và như vậy là vẫn có hy vọng.

“Anh cần cậu, Renekton,” ông nói. “Anh không thể hạ gục Xerath mà không có cậu.”

Phía trước là sa mạc đang vẫy gọi tên ông.

Phía sau là cát bụi đang chiếm lại Vekaura.

Câu truyện của AZIR HOÀNG ĐẾ SA MẠC 3: HOÀNG HÔN CỦA CÁC VỊ THẦN

TÁC GIẢ: GRAHAM MCNEIL

Được đêm đen che phủ, họ đặt chân đến thành phố chết dưới bóng ngọn núi. Hàng ngàn chiến binh, mỗi người mang theo những món cổ vật đẫm máu chứng tỏ dòng dõi xa xưa của Thể Thăng Hoa đang chỉ huy họ.

Thành phố và người dân nơi đây từ lâu đã hợp làm một với sa mạc, thật khó mà phân biệt được cát và tro xương. Chỉ còn mấy ngọn tháp cao nhất vươn được khỏi đụn cát: những công trình đổ nát khóc than rên rỉ khi gió thổi từ trên núi xuống. Ngay trên một bục đá nứt nẻ là cặp chân trơ trọi của bức tượng đầu chim bị chôn lấp gần nửa trên mặt cát cạnh đó.

Cách đây thật lâu, một sự kiện trọng đại đã diễn ra trong thung lũng nơi sau này thành phố được dựng lên.

Nó đánh dấu sự khởi đầu của Shurima.

Và cũng đưa đến sự kết thúc của nó.

Không ai nhớ ngày ấy, trừ những vị thần chiến binh đang dẫn quân nhằm hướng đống tàn tích của thành phố mà tiến tới. Chính những thần chiến binh này đã tàn sát dân chúng sau khi hoàng đế của họ bị phản bội. Người chết, thành phố bị thiêu trụi, và tên họ bị xóa sạch khỏi mọi tấm bia và cột tưởng niệm còn sót lại.

Nhưng, những hành động diệt chủng kia chẳng vì mục đích gì ngoài oán thù phù phiếm.

Phù phiếm bởi đứa trẻ bị bắt làm nô lệ ở thành phố này đã chết từ lâu, và ghi nhớ nơi nó sinh ra trên đời thật vô ích.

Nó đã hủy diệt đế chế và chia rẽ tình huynh đệ của họ.

Và thế là, các thần chiến binh thiêu cháy Nerimazeth, cùng người dân ở đây, thành tro.

***

Dòng thời gian trôi đã lấy đi sắc màu lấp lánh của cuộn giấy bằng vàng.

Giống như tất cả chúng ta, Ta’anari nghĩ. Ông rà ngón tay qua một danh sách những cái tên và con số, bản ghi chép tỉ mỉ về tiền thuế thập phân từ các cảng giao thương mới lập tại Kha’zhun ở phía Bắc.

Mới lập ư…?

Kha’zhun đã tồn tại nhiều thế kỷ, lối ăn nói man rợ của cư dân đã biến tên nó thành một thứ gì mới mẻ và xấu xí. Đại Học Giả có thể thấy nội dung trong cuộn giấy thú vị, nhưng giá trị duy nhất của nó với Ta’anari là mối liên hệ hữu hình tới thời mà thế giới này còn hữu lý.

Căn phòng từng là sảnh ghi chép, giá sách chật kín bốn bức tường cẩm thạch, chất đầy những cuộn giấy ghi lại cống phẩm cho hoàng đế, chi tiêu cho chiến tranh cùng vô sô chứng thư của ngài. Nó từng rất rộng rãi, nhưng phần mái đã đổ sập vài trăm năm trước, và cát đã phủ đầy hầu hết phần không gian ngầm bên dưới.

Ông cảm thấy không khí có sự thay đổi, và ngước lên nhìn.

Myisha đứng ngay cửa vào, trông cô thấp hẳn đi trước kích thước của nó. Đầu Ta’anari có thể quét qua thanh rầm—hồi ông còn đứng thẳng được. Myisha có vóc người nhỏ nhắn, thậm chí hơi mong manh, nhưng Ta’anari cảm nhận được ở cô sự sâu sắc mà ông không nắm bắt hết được. Tóc vàng như người nơi phương Bắc lạnh giá phủ quanh vai cô. Khuôn mặt trẻ trung, nhưng đôi mắt, một cái màu xanh da trời, một cái màu tím sẫm, lộ ra vẻ thông thái trước tuổi. Cô mặc áo lụa mỏng nhiều màu sắc và hoàn toàn không thích hợp với chốn sa mạc, buộc một sợi dây mảnh quanh eo, trên đó treo chiếc chìa khóa bằng vàng. Khăn quàng màu hồng sáng ôm lấy cổ, và cô đang lấy tay nghịch nghịch phần tua rua của nó.

“Họ đang ở đây,” cô nói.

“Bao nhiêu?”

“Chín chiến đoàn. Gần mười ngàn người.”

Ta’anari gật đầu, lấy lưỡi đảo qua mấy cái răng nanh vàng xỉn. “Nhiều hơn ta dự kiến.”

“Quá nhiều máu đã đổ trong mấy thế kỷ qua,” ông nói. “Quá nhiều oán thù đã kết. Ý tưởng về hòa bình giữa chúng ta là lời nguyền rủa cho nhiều trong người bọn họ.”

Myisha lắc đầu trước sự ngu ngốc ấy. “Bao người đã chết trong cuộc chiến triền miên này. Ngài đã xuống tay với nhiều đồng loại của ngài hơn cả lũ quái vật vực thẳm đấy.”

Chút khiển trách trong giọng điệu đùa cợt của cô ngấm vào Ta’anari. Sau tất cả, cô nói đúng.

Đó không phải lý do ông gọi thân thích của mình đến sao?

“Khi Azir ngã xuống, chiến tranh giữa các Thái Dương Tộc là không thể tránh khỏi,” Ta’anari đặt cuộn giấy sang một bên, tạm ngừng cuộc nghiên cứu lịch sử. “Không còn ngài, tham vọng của chúng ta vượt ngoài tầm kiểm soát. Có biết bao viễn cảnh về tương lai, nhưng chúng ta đều đã quá sa ngã để nhận ra chúng.”

“Thế thì rốt cuộc các ngài cũng đâu khác người phàm.”

Trước đây, ông sẽ xử tử kẻ nào dám nói câu đó, nhưng hàng thế kỷ chiến tranh và tàn sát của họ đã là minh chứng rõ nhất cho sự thật rồi.

Ta’anari không nhớ rõ Myisha bắt đầu làm việc cho ông từ bao giờ. Sinh mệnh người phàm thật ngắn ngủi, ông hiếm khi nhận ra khi nào ai đó chết đó rồi một người khác thế chỗ. Nhưng Myisha thu hút sự chú ý của ông hơn hết thảy. Một phần do thói xấc xược của cô, nhưng còn hơn thế nữa. Cô thấu hiểu tâm trí người phàm, thứ ông và đồng loại không có từ khi họ đánh đổi nhân tính lấy sức mạnh.

Lần cuối Ta’anari đi như một con người đã lâu lắm rồi. Ông gần như không nhớ nổi cảm giác của người phàm, hay nhận thức về dòng thời gian trôi. Phép thuật cổ xưa và sự ra đời của Đĩa Mặt Trời đã tái tạo ông, rèn giũa xác phàm thô tục của ông thành cơ thể thần thánh.

Một vị thần đầy khiếm khuyết và vụn vỡ, nhưng vẫn là thần.

Thân hình của ông có dạng một con báo mang giáp bằng đồng, lưng đã còng vì tuổi tác và chiến tranh, nhưng vẫn rất cường tráng. Bộ lông ở thân trên đen bóng, nhưng vùng miệng và tay chân đã lốm đốm xám, đấy là ông đã cố gắng hết sức để giữ dáng. Ánh nhìn của Ta’anari từng đủ sức chấn nhiếp cả đoàn quân, nhưng giờ chỉ còn một viên hồng ngọc rạn nứt bên trong hốc mắt sứt sẹo, bên kia là con mắt dài hẹp màu hổ phách, nhòe nhoẹt một cách tuyệt vọng. Xương sống ông oằn đi sau khi hứng trọn một cú bổ rìu trong Trận Đánh Sông Khaleek, đòn tấn công dữ dội đến mức khả năng hồi phục thần thánh của ông cũng chẳng thể hoàn toàn chữa lành vết thương.

Ông cầm vũ khí trên bàn lên, thanh thập tự kiếm tuyệt đẹp Chalicar. Ông cảm nhận sự cân bằng tuyệt hảo của nó, nhưng hơn cả, là sự chờ mong trĩu nặng trong nó. Ông thở dài, cắm nó vào bao da trên vai rồi đi lại chỗ Myisha.

Dù bị thời gian và thương tật tàn phá, Ta’anari vẫn cao hơn hẳn cô. Đại Chiến Thái Dương Tộc—dù người ta hay gọi nó bằng một cái tên khác, tăm tối hơn—đã cướp đi vô vàn sinh mạng của đồng loại cô, nhưng cô không hề sợ ông.

Thỉnh thoảng, ông cảm nhận được thoáng thương hại từ cô.

Lúc khác thì lại là sự khinh miệt.

Cô đặt bàn tay nhỏ nhắn trơn láng lên nắm đấm to tướng đầy vuốt nhọn của ông. “Ngài vẫn là một thần chiến binh, Ta’anari,” cô nói. “Hãy nhắc họ nhớ về điều họ theo đuổi, và ngài sẽ giành được sự ủng hộ của họ thôi.”

“Nếu họ không nghe thì sao?”

Cô mỉm cười. “Quá đơn giản. Ngài xử hết là xong.”

Các tín đồ đang đợi ông ngoài tiền sảnh đã lún trong cát. Họ từng là vua chúa cai trị các đế chế của người phàm, nhưng đứng trước chiến đoàn bất khả chiến bại của Ta’anari, họ đã thề phục vụ ông.

Chiến đấu bên một thần chiến binh thì tốt hơn là bị ông ta nghiền nát.

Teushpa cúi đầu khi ông lại gần, hai cánh tay khỏe mạnh điểm nhiều hình xăm và vòng tay bằng ngọc thạch. Ngang ngạnh, nhưng trung thành, bà là người cuối cùng chịu đầu hàng. Sulpae là dân sa mạc có dòng dõi từ tận thời cha ông của Azir. Bà dộng cây giáo dài xuống đất khi thấy ông. Đầu cạo trọc, được rạch thành hình lưới với những hạt vàng ở mỗi giao điểm.

Idri-Mi, kiêu hãnh và mạnh mẽ, vác cây rìu cán dài trên vai. Thứ vũ khí nặng nề này thậm chí đa số đàn ông cũng không nhấc lên được. Bà là nữ hoàng của vùng đất phía Đông, gia tộc đã ba đời chiến đấu cho ông. Nước da trắng ngà, mái tóc đen dài được buộc gọn với những cái móc bạc.

Ta’anari đứng trước ba nữ chiến binh.

Họ không phải vệ sĩ của ông; ông chẳng cần mấy sinh vật thấp kém bảo vệ. Thay vào đó, họ là biểu tượng cho ý chí của ông, cho cách ông thống trị được những chiến binh kiêu hãnh từng muốn ông phải chết, và đủ giỏi để thực sự có khả năng làm ông bị thương.

Các anh chị em trong hội huynh đệ đã suy tàn của ông cũng có các tín đồ của họ, nhưng chẳng thể dũng mãnh bằng của ông.

Dẫu vậy, không ai trong số họ dám nhìn vào mắt ông khi ông nói chuyện. Đối mắt với một thần chiến binh đồng nghĩa với chết.

“Ta đã thấy nhiều tín đồ trong hàng trăm năm tồn tại, nhưng các ngươi sẽ là những người cuối cùng,” Ta’anari nói. Ông quan sát phản ứng trên mặt họ, nhưng thời gian phụng sự dài dằng dặc đã loại bỏ được nhược điểm cảm xúc nơi họ. Trông họ vô cảm như mấy bức tượng đổ rải rác ngoài thành phố chết vậy. “Ta hoàn toàn chắc chắn điều đó, từ sự kiên nhẫn trong mắt các ngươi khi những cơn ác mộng cắn xé tâm trí ta khi thuốc của Myisha hết tác dụng. Các ngươi đều trung thành, nhưng cũng mong ta chết lắm.”

Mắt Teushpa vừa hơi lóe lên sao? Nếu là trước đây, hẳn ông đã nhai xương bà ta vì thiếu kiểm soát như vậy, nhưng ham muốn giết chóc của ông đã nhạt dần sau nhiều thế kỷ.

“Không trách các ngươi được,” ông tiếp tục. “Đồng loại của ta cho các ngươi cái gì ngoài chết chóc và kinh hoàng? Thật lâu trước đây, Thái Dương Tộc trả cái giá kinh khủng để cứu thế giới này, nhưng giờ chúng ta đã đưa nó đến bờ hủy diệt. Những ngày vinh quang của Quân Đoàn Thăng Hoa đã qua rồi, bị che mờ bởi bóng đêm chiến tranh, và bởi cả đống ký ức phù dù của đám người phàm các ngươi nữa.”

Những lời cuối thốt lên đầy cay đắng, chỉ dịu đi một chút trước sự thật rằng chính ông và các huynh đệ đã gây ra điều đó. Quá tự phụ, tinh thần bị chiến tranh tàn phá, và đủ loại thù hận truyền kiếp đã trộn lẫn với nhau để rèn nên thanh kiếm chặt đứt xiềng xích của trách nhiệm nơi họ.

Ta’anari rùng mình thở dài. Hơn một ngàn năm nay, ông đã chống lại thời khắc này, nhưng giờ khi nó đã cận kề, ông biết cái chết chẳng còn đáng sợ nữa.

“Nếu sống qua đêm nay, các ngươi sẽ đón bình minh như một người tự do. Khi mặt trời lên, hãy quay về chỗ người của các ngươi và nói cho họ những điều tai nghe mắt thấy ở đây.” Ông quay đi. “Myisha, mọi thứ chuẩn bị xong hết chưa?”

“Đã xong. Họ đang đợi ngoài khán trường.”

Ta’anari gật đầu. “Vậy hãy để chúng ta kết thúc chuyện này.”

Nơi này không được thiết kế làm khán trường. Nó vốn là chỗ họp chợ ở Nerimazeth, nhưng các nô lệ của Ta’anari đã đục đẽo trên bề mặt sa mạc, và ông dùng ma thuật tạo ra luồng nhiệt nóng bỏng đến mức cát hóa thành thủy tinh. Giờ nó là một quảng trường bằng kính; một lòng chảo màu đen khói, xanh biển và óng ánh ngũ sắc. Ánh trăng dịu nhẹ rơi trên đó, phản chiếu lại dưới dạng những tấm màn bạc trôi nổi.

Ta’anari đi vào qua cổng vòm trông như một con sóng bị thời gian đóng băng. Bầu không khí căng như dây đàn, thứ người ta chỉ có thể trông đợi khi các vị thần tập hợp binh lính.

Mười nghìn người đứng chật khán đài, còn những nhà vô địch của những thần chiến binh thì tụ hợp lại bên dưới. Chưa lưỡi kiếm nào được tuốt khỏi vỏ, nhưng tất cả đều sẵn sàng khai cuộc tàn sát khi chủ nhân của họ ra lệnh.

Ta’anari quét ánh mắt nhìn những Thái Dương Tộc khác—những người anh chị em từng đoàn kết dưới mối ràng buộc không thể phá vỡ của tình yêu và trách nhiệm. Nhưng, đến đúng thời điểm, rồi chúng cũng lộ ra bản chất mong manh như thủy tinh. Sức mạnh không ai tưởng tượng nổi bao bọc quanh người họ, nó đến từ một thế giới nằm ngoài tầm hiểu biết, biến đổi xác phàm của họ theo cái cách mà không sinh vật nào tái tạo được.

Nhưng tâm trí chúng ta vẫn phàm tục, ông nghĩ, và yếu đuối đến phát sợ.

Syphax nhìn ông thấu hiểu. Zigantus lộ vẻ kinh tởm. Xuuyan thể hiện sự khinh bỉ không che giấu. Chính lưỡi rìu của Xuuyan đã khiến Ta’anari mang thương tật ở Khaleek. Vị thần chiến binh đầu rùa khạc xuống đất lúc Ta’anari đi đến trung tâm khán trường.

Shabaka và Shabake, cặp tiên tri song sinh đầu quạ, còn không ngẩng lên, quá mê mải với việc xem bói bằng xương chạm khắc. Valeeva quan sát Ta’anari với cùng gương mặt khinh thị như thường thấy trên mặt anh trai cô ta—một thành viên trong hội ái hữu mà ông thấy nhẹ cả người vì đã không tham gia vào.

Cebotaru Chó Sói đi qua đi lại, nóng lòng muốn làm cho xong buổi họp kín này. Chiến đoàn của ông ta đã tàn phá phương Bắc, và cả những vùng đất bên kia biển phía Tây. Trong số tất cả bọn họ, Cebotaru là người có khả năng phá vỡ thế bế tắc đẫm máu này nhất.

Naganeka Xứ Zuretta nhìn ông bên dưới lớp mũ trùm, bộ áo choàng dài phủ kín người bà ta. Đám tín đồ bị độc làm mù mắt đứng kế bên, sẵn sàng chuyển lời, nếu bà ta chịu thốt ra câu nào. Hơn năm trăm năm nay, chưa ai nghe thấy một tiếng thì thầm từ bà ta.

Chỉ mỗi Enakai vẫn tôn trọng ông. Ông ta tiến lên, da vằn vện những vệt màu da cam và đen sặc sỡ. Trái với Ta’anari, Enakai thách thức tuổi tác bằng sự kiêu hãnh, đôi mắt sáng rực, và sức mạnh không hề suy giảm. Rất lâu trước đây, cả hai đã cùng bước trên những bậc thang dẫn đến Đĩa Mặt Trời, đứng cạnh nhau khi ánh sáng cháy bỏng đem quyền năng thần thánh thấm vào cơ thể họ. Enakai đã mang Ta’anari trọng thương rút khỏi Icathia, kề vai chiến đấu bên ông trên đất bùn ở Khaleek, và đối mặt với ông tại Cảng Glacier.

Cứ sống lâu như chúng ta thì sẽ thấy hết những lần bánh xe xoay vần.

Enakai bắt tay Ta’anari. “Ta’anari.”

“Enakai.”

Chẳng cần nói gì thêm. Biết bao kinh nghiệm, niềm vui, mất mát và đớn đau trong mấy đời người đều nằm hết trong cái tên của họ. Họ là những sinh vật đã trở thành thần. Những từ ngữ vụn vặt tầm thường đều không xứng với họ.

Mắt Enakai nheo lại khi thấy vũ khí trên lưng Ta’anari. Ông ta mở miệng định nói, nhưng Ta’anari đã tinh tế lắc đầu.

“Tôi hy vọng ông biết mình đang làm gì,” Enekai nói khẽ rồi quay về chỗ của mình bên rìa khán trường.

Ta’anari thở ra một tiếng; ông đã diễn tập cảnh này hàng trăm lần trong những năm qua. Chỉ sai một từ thôi cũng có thể chấm dứt tất cả trước khi nó kịp bắt đầu. Thân thích của ông đều là thần chiến binh, và tất cả đều có sự tự mãn và nóng nảy thường thấy ở những sinh vật có cái tôi lớn chừng đó.

“Các anh chị em,” ông nói, ma thuật giúp giọng ông vang khắp khán trường. “Đã lâu rồi Thái Dương Tộc không tụ hội đông đủ, kể từ cái ngày chúng ta đứng trước tường thành Parnesa.”

Ông thấy có những cái gật đầu, ký ức rực rỡ ấy nhen lên ngọn lửa đang dần tàn trong linh hồn họ.

Giờ cứ dựa theo đó. Nói như thể đang nói với từng người.

“Tôi nhìn quanh, và thấy sức mạnh,” ông tiếp tục bằng đam mê và tin tưởng. “Tôi thấy những vị thần từng đi giữa đám người phàm—những sinh thể cao quý, hùng cường và xứng đáng được sùng bái. Có người bảo hội huynh đệ cổ xưa của chúng ta đã suy tàn. Họ dùng ngôn ngữ cổ gọi chúng ta là Darkin, nhưng khi thấy mọi người ở đây, từ đó quả là dối trá.”

Ta’anari ngừng lại, để những lời tâng bốc của ông ngấm vào họ. Với hầu hết thì chẳng có ý nghĩa gì, bởi dàn đồng ca của bao kẻ bị đọa đày đã ngày đêm rót vào tai họ… về nỗi đau của cái chết.

Nhưng vẫn có thể đủ để phần còn lại tán thành.

“Tất cả các ngươi đều nhớ lúc chúng ta hành quân vai kề vai, khi Setaka dẫn đầu Quân Đoàn Thăng Hoa đi mở rộng đế chế đến từng ngõ ngách của thế giới. Ta biết, và ta cũng nhớ nó. Đó là một kỉ nguyên của vinh quang, một kỉ nguyên của những anh hùng! Cebotaru, ta và ngươi đã cưỡi trên lưng những con rồng thượng giới đến nơi tận cùng của thế giới, khi thời gian hòa lại làm một, và chứng kiến vũ trụ ra đời.

Rồi ông quay sang, vươn một cánh tay về phía Syphax.

“Syphax, người anh em, chúng ta đã từng chiến đấu với những con quái vật nơi đáy sâu khi chúng tràn ra từ khe nứt ở vùng biển phía đông. Chúng ta đã chiến đấu suốt mười ngày đêm, cho đến cực hạn của sức chịu đựng, nhưng rồi chúng ta đã đẩy lùi chúng. Chúng ta đã chiến thắng!”

Syphax gật đầu, và Ta’anari thấy kí ức về cuộc chiến tranh đó đã hằn lên da thịt của ông ta qua những vết sẹo màu tím, đen, và đỏ.

“Ta sẽ không nói về thời điểm đó,” Syphax nói, đôi mắt của ông được che phủ bởi lớp khói. “Bảy ngàn chiến binh vàng của Shurima đã nằm lại nơi bờ biển đỏ. Chỉ có ta và ngươi là sống sót trở về”

“Đúng, chúng ta đã phải trả một cái giá khủng khiếp cho chiến thắng đó, người anh em – bằng cả máu thịt lẫn tinh thần. Nhưng đó là một trận chiến vinh quang đến mức người phàm đã phải đặt lại tên đại dương đó sau chiến thắng của chúng ta.”

Syphax lắc đầu “Kí ức của ngươi đã bỏ qua những nỗi kinh hoàng mà chúng ta phải chứng kiến ngày hôm đó, Ta’anari. Cứ nói tiếp về vinh quang của ngươi đi. Ta sẽ không nghe nữa. Khi nhắm mắt lại, ta vẫn nghe tiếng gào thét vọng lại của những người đã mất. Ta nhớ lại cách mà… bọn chúng giết họ. Tệ hơn, cách mà họ bị xóa sổ khỏi thế giới, còn linh hồn thì bị nuốt chửng. Nên đừng nhắc với ta những hồi ức vàng son của ngươi nữa, hãy xem như ta không nhớ về nó.”

“Đúng, đó là những ngày tháng đẫm máu, và ta cũng đã có một chút ngợi ca chúng.” Ta’anari nói. “Nhưng ta đang nói về cách mà thế giới nên biết đến, và nhớ đến chúng ta. Như những anh hùng quyền năng, thống trị thế giới bằng những đội quân hùng mạnh và được chỉ huy bởi một hoàng đế bất tử đã-

“Nhưng Azir đã chết,” Xuuyan cắt lời, cắm chiếc rìu chiến khống lồ của mình xuống mạnh đến mức lớp thủy tinh bên dưới nứt ra. “Ngài đã chết, và khi không có ngài lãnh đạo, Thái Dương Tộc đã rơi vào chiến tranh. Những thứ trước đây giờ chỉ còn là tro và bụi. Chẳng có nghĩa lý gì cả. Nên nếu ngươi nghĩ rằng nhắc lại về những kí ức huy hoàng sẽ kết thúc được cuộc xung đột này, thì chính ngươi đã rơi vào sự điên loạn hơn bất kì ai trong số bọn ta.”

“Nhắc nhở tất cả chúng ta về quá khứ chỉ là một phần lí do mà ta đem các ngươi đến đây,” Ta’anari nói.

“Thế thì hãy tiết lộ mục đích của ngươi đi, hoặc là chúng ta sẽ lại giết chóc lẫn nhau.”

Ta’anari cố gắng đứng thẳng, nhưng thất bại khi bộ xương vặn vẹo ở lưng ông kêu cọt kẹt như một cành cây bị bẻ cong. Cơn đau găm thẳng vào xương sống của ông như bị một bộ móng vuốt đến từ Hư Không cắt xuyên qua.

“Đó là vết thương cũ, Xuuyan,” ông nói. “Nó chẳng thể lành lại nữa. Ngươi nhớ mà ở Khaleek?”

“Đương nhiên là ta nhớ rồi, tên què quặt” Xuuyan càu nhàu. “Ta nhớ mọi đòn tấn công ta đã thực hiện kể từ khi bước ra khỏi ánh sáng của chiếc đĩa vĩ đại. Chẳng có ai trong chúng ta là không thể nói về những chiến công hay những sự phản bội bên cạnh những người mà chúng ta đã từng gọi là chiến hữu.

“Ta và ngươi, chúng ta đã cố thủ ở phòng tuyến nơi từng là Icathia. Ngươi đã cứu mạng ta nhiều hơn một lần.”

“Những ngày tháng đó đã qua rồi, “ Cebotaru ngắt lời, những câu chữ nham nhở phát ra từ bộ hàm bị biến dạng nặng nề. “Và chúng sẽ phải nằm lại trong quá khứ.”

“Vì sao?” Ta’anari gặng hỏi, hướng về phía hắn. “Vì sao chúng phải nằm lại trong quá khứ? Chúng ta chẳng phải là những Thể Thăng Hoa của Shurima sao? Chúng ta không phải chỉ là những hiện thân mơ hồ, chúng ta chính là thần thánh! Thực tại là gì, ngoài những thứ mà chúng ta có quyền quyết định? Bất kì ai trong chúng ta đều có thể thống trị cả thế giới, nhưng thay vào đó chúng ta lại rơi vào những tranh chấp tầm thường, chiến tranh lẫn nhau vì những lí do chẳng còn có thể hiểu được, và cũng không nhiều người trong chúng ta còn có thể nhớ tên của chúng.”

Ông bước đi, với một giọng nói ầm ĩ và phán xét, bất chấp bản thân.

“Zigantus, ngươi tin rằng chúng ta sẽ phải xây dựng lại đống đổ nát, để tiếp tục di sản của Azir. Enakai, ngươi muốn gầy dựng lại một vương quốc mới. Valeena, ngươi và anh trai ngươi nhìn thấy hận thù trong mọi đôi mắt, và kiếm tìm sự phục hận dành cho những kẻ dám khinh thường, dù là thật hay chỉ là do tưởng tượng.”

“Nó là thật đấy,” cô ta rít lên, làn da tinh thạch của cô nổi lên những mạch máu màu tím và những đốt xương độc dựng thẳng lên trên vai.

Ta’anari phớt lờ cô ta. “Mỗi chúng ta đều có một mục tiêu khác nhau ở tương lai, nhưng thay vì sử dụng sức mạnh Thái Dương Tộc của chúng ta và đoàn kết lại để làm một điều gì đó, chúng ta lại chiến đấu như lũ chim ăn xác tranh giành từng miếng thịt. Đúng, Sekata đã chết lâu rồi, và chúng ta sẽ không bao giờ thấy một ai giống cô ta nữa. Đúng, Azir đã bị phản bội, và đế chế của chúng ta sụp đổ thành tro bụi, dân chúng sợ hãi và li tán. Shurima cần một người lãnh đạo quyền năng để hồi sinh, nhưng tất cả những gì nó để lại là chúng ta, những con quái vật suy đồi đã nhìn vào khe nứt quá lâu, tâm trí bị nỗi kinh hoàng bên trong nó vặn vẹo đến sự điên loạn và diệt vong.”

“Nên thay vì gầy dựng lại, chúng ta lại tranh giành đống đổ nát của một đế chế đã chết, và thiêu cháy toàn bộ thế giới theo nó. Ngay cả lúc này đây, chúng ta có thể phải nhìn thấy sự tuyệt diệt của muôn loài trước khi chúng ta tìm ra được một mục tiêu chung. Mỗi người chúng ta đều rất mạnh, nhưng nếu kết hợp lại… ? Chẳng có thứ gì chúng ta không làm được cả. Nếu muốn, chúng ta có thể đốt cháy cả cánh cổng thượng giới, bỏ lại thế giới hoang tàn này phía sau, và xây dựng một đế chế mới bên ngoài những vì sao!”

Giọng của Ta’anari bỗng chùng xuống, lấp đầy bởi sự hối hận.

“Nhưng chúng ta đã không làm thế. Chúng ta đã làm thứ mà những sinh vật hạ đẳng làm. Chúng ta giết chóc lẫn nhau trong một cuộc chiến tranh đã kéo dài hơn nhiều lần so với bất kì trận chiến nào mà chúng ta đã trải qua.”

Và ông lại lên giọng, nó vút cao lên những ngóc ngách phía bên kia của khán trường.

“Nhưng chúng ta không cần phải như thế, không bao giờ phải như thế nữa!”

Ta’anari với ra sau lưng và lấy ra chiếc Chalicar. Những tiếng xì xào trong kinh ngạc lấp đầy khán trường khi họ nhìn thấy món vũ khí cổ đại.

“Các ngươi đều nhớ nó,” ông nói. “Đây là vũ khí của Sekata, người vĩ đại và cao quý nhất trong chúng ta. Đến từ phía bên kia ngọn núi ở buổi đầu của đế chế Shurima. Đây là lưỡi kiếm một ngày nào đó sẽ được sử dụng bởi Sivunas Alahair, Kẻ Đem Mưa. Trong tay họ nó sẽ trở thành một vũ khí hủy diệt, hoặc là biểu tượng của sự thống nhất.”

Ông giơ chiếc Chalicar lên cho tất cả cùng thấy. Lưỡi của nó lấp lánh ánh sáng vàng, được tạo hình bởi những thực thể bên ngoài thế giới này, mang một quyền năng mà ngay cả những người thông thái nhất Shurima cũng chẳng thể hiểu thấu. Ta’anari nhìn thấy sự sùng bái, sự kinh ngạc và niềm kiêu hãnh từ họ.

Nhưng hơn hết, ông cũng thấy được khát khao sở hữu nó từ bọn họ. Xuuyan bước lên phía trước, hướng về phía ông.

Đương nhiên nó sẽ thuộc về Xuuyan.

Vị thần chiến binh xoay chiếc rìu chiến của mình, và Ta’anari nhớ rõ nỗi đau khủng khiếp khi lưỡi rìu hắc thạch đó chặt đôi bộ chiến giáp của ông, và nghiền nát xương sống của ông thành từng mảnh.

“Ta sẽ giết ngươi, và đoạt lấy nó từ bàn tay của ngươi,” Xuuyan nói, với một nụ cười rộng toác trên khuôn mặt “Điều này liệu sẽ khiến ta là chỉ huy?” Lớp vỏ giáp xác của hắn phồng lên phía vai, làm trồi lên những mảnh gai nhọn và mũi kiếm. Ngay cả trong trạng thái mạnh nhất của mình, Ta’anari vẫn không thể đánh bại hắn.

Nhưng đã vài thế kỉ trôi qua kể từ trận Khaleek rồi, giờ đây Ta’anari đã học được vài trò mới.

“Ngươi sẽ đánh với ta bằng thứ đó à?” Xuuyan hỏi, rìu chiến của hắn chỉ về phía chiếc Chalicar.

“Không,” Ta’anari trả lời, và quay lại để đưa nó cho Myisha.

Sức nặng của nó gần như quá sức so với cô, nhưng cô nháy mắt và ông cảm giác được một sự háo hức bất thường nơi cô, cứ như là cuộc chiến của những vị thần sắp diễn ra khiến cô háo hức.

Xuuyan cười khẩy. “Rồi sao? Ngươi sẽ tay không đánh với ta à? Là thế à? Ngươi định chết ở đây, trước mắt những vị thần đồng loại sao?”

“Cũng không phải thế.”

“Không quan trọng, ta không quan tâm đến lý do của ngươi” Xuuyan nói, “Ta sẽ kết thúc những gì ta đã bắt đầu ở dòng sông đó.”

Hắn lao tới như một trận tuyết lở – một tiếng sấm rền vang, không thể lay chuyển, và chết chóc là điều không thể tránh khỏi. Ta’anari đã chứng kiến cả quân đoàn bị hủy diệt, những người khổng lồ bị hất văng, và những cánh cổng pháo đài bị xé toạc bởi nó.

Ta’anari khụy một chân xuống và đặt tay lên sàn thủy tinh của khán trường. Ông cảm giác được dòng ma pháp đang chảy xuyên qua nó, những dòng năng lượng vàng óng liên kết ông với tất cả những sinh vật đang ở bên trong. Người phàm trông như những tia lửa nhỏ phát ra từ ngọn lửa, phù du và thoáng lóe sáng, nhưng những thần chiến binh thì trong như những mặt trời đang sôi sục với ma thuật bên trong.

Ông đắm mình vào trong sức mạnh của họ, như cách mà Myisha đã hướng dẫn ông. Ông lấy ra một chút quyền năng tiên tri từ Shabaka và Shabake, cảm nhận được giác quan kì dị của họ cuộn trào bên trong ông. Sự linh hoạt của loài bò sát từ Syphax chạy dọc cơ thể cổ đại của ông. Cơn thịnh nộ của Zigantus, và sức mạnh công lý của Enakai.

Ta’anari nhắm mắt lại, biết được nơi cú lao tới của Xuuyan sẽ đánh vào.

Ông né sang bên, lưỡi rìu sượt qua cổ ông trong gang tấc. Xuuyan lướt ngang qua như một tia sét, và Ta’anari vòng ra sau, bám vào một mảnh sừng cong lên của đối thủ. Ông nhảy lên lưng của Xuuyan và khiến hắn gầm lên trong cơn thịnh nộ.

Vị chiến thần lăn lộn, tìm cách ném Ta’anari ra, nhưng ông bám quá chặt. Năng lực của hai nhà tiên tri song sinh cho phép Ta’anari hóa giải mọi đòn tấn công điên cuồng, hoang dại của đối thủ. Xuuyan xoay cán rìu và vung nó lên vai hắn như một kẻ điên dại đang tự trừng phạt mình. Ta’anari kịp lăn sang bên khi lưỡi rìu giáng xuống, để lại một vết nứt sâu và rỉ máu trên lớp giáp siêu nhiên của Xuuyah.

Vị Thái Dương Tộc rống lên trong sự giận dữ, vặn lưỡi rìu ướt đẫm máu ra khỏi lớp thịt cứng chắc của mình. Một chiếc sừng của hắn bị vướn vào những sợi chỉ ma thuật, và Ta’anari giật đứt nó ra khỏi bộ giáp. Chiếc sừng màu vàng ngà và cong như một thanh đại đao, đầu được bọc bởi kim loại và sắc như dao cạo.

Xuuyan đâm thẳng vào bức tường của khán trường với một lực mạnh đến nỗi nó vỡ tung thành nhiều mảnh kính sắc bén. Hàng chục người ngã nhào xuống đấu trường, và nhanh chóng bị nghiền nát bởi vị chiến thần đang vật vã. Xuuyan quăng Ta’anari từ trên lưng xuống. Ông va chạm mạnh với sàn đấu, tay vẫn nắm chặt chiếc sừng.

Xuuyan xoay người và vung rìu chuẩn bị cho một cú chặt kết liễu, nhưng Ta’anari né sang bên, và sàn đấu vỡ tung với những mảnh kính sắc như dao. Bàn chân thô kệch của Xuuyan giẫm lên ngực ông, ghim chặt ông xuống sàn. Ông có thể cảm thấy xương sườn của mình nứt ra, và một mảnh vỡ đang găm vào phổi. Sức nặng khủng khiếp, đủ khả năng để nghiền nát ông như một con côn trùng.

“Chalicar sẽ là của ta!” Xuuyan thét lớn.

Hộp sọ của vị thần chiến binh được kéo dài ra từ bộ chiến giáp của hắn, như một chiếc mũ bảo hiểm bằng da, chiếc cổ dày và nhợt nhạt với những đường gân máu nổi cộm. Cặp mắt đen vô hồn trợn lên như hứa chắc cái chết đối với đấu thủ của hắn. Và như hắn đã hứa, hắn sẽ kết thúc thứ mà hắn đã bắt đầu bên bờ sông Khaleek.

“Không,” Ta’anari gào lên với bộ nanh đẫm máu. “Nó sẽ không thuộc về ngươi.”

Ông giải phóng một luồng năng lượng từ quyền năng mới học được, hoàn toàn xa lạ với phần còn lại của giống loài. Ông dịch chuyển đi – một cảm giác tồi tệ khi ông bị ném mạnh qua những vòng xoáy vô tận, một đường hầm bao quanh bởi lũ quái vật ghê tởm đang ẩn nấp nơi ngoại giới…

Cảm giác này kéo dài chỉ trong một giây, nhưng cứ như cả một thế kỉ.

Ông mở mắt ra, và một lần nữa ở phía trên Xuuyan ngay khi lưỡi rìu chết chóc chém vòng xuống mặt sàn. Một tiếng nổ lớn vang lên phía sau ông khi cổng dịch chuyển đóng lại.

Ta’anari giơ cao chiếc sừng đẫm máu qua đầu, và găm nó xuyên qua mắt của Xuuyan.

Mũi nhọn của chiếc sừng cắm sâu vào hộp sọ của vị chiến thần, sức mạnh phi thường của Ta’anari đẩy toàn bộ chiều dài của chiếc sừng đâm xuyên qua não bộ của Xuuyan.

Đó là một đòn tàn bạo và chí tử, nhưng Xuuyan vẫn đứng yên, da thịt Thăng Hoa của hắn dường như vẫn chưa sẵn sàng cho cái chết. Ta’anari nhảy sang bên khi tên hung thần gục xuống với tiếng động như một ngọn núi đổ sập. Xuuyan ngã vật ra phía ông, đôi mắt còn lại của hắn nhìn chằm chằm vào người đã giết mình, ngỡ ngàng trong câm lặng. Miệng hắn vẫn chuyển động, nhưng không phát ra từ ngữ nào cả.

Ta’anari thở hổn hển khi những lá phổi đã rỉ máu. Ông nghe Myisha reo lên vui mừng, vỗ tay như thể một giáo viên hài lòng với màn trình diễn thành công của học trò.

Tiếng động đó khiến ông phát bệnh.

Ngay cả khi mọi việc đi theo đúng như dự tính, ông đã đoán trước rằng mình sẽ phải giết chết ít nhất một đồng loại. Nhưng ông không hề hứng thú với viễn cảnh này. Ông và Xuuyan chưa từng thân thiết với nhau, nhưng họ đã kề vai chiến đấu vì vinh quang của Shurima, khi mặt trời còn ban phước lành cho họ, và lấp đầy cơ thể họ với quyền năng.

Ông quỳ xuống bên cạnh đối thủ đã gục ngã của mình và đặt một bàn tay lên đầu hắn. Máu lấp lánh dưới ánh sáng của những vì sao được rèn bởi loài rồng. “Ta thật sự xin lỗi, người anh em,” ông thì thầm.

Một tiếng gầm thống khổ phát ra từ những chiến tướng dưới trướng Xuuyan. Không phải là để khóc than cho cái chết của vị thần – Xuuyan bị ghét quá nhiều cho việc đó – hay là cả khát khao phục hận. Tiếng gầm là cho chính mạng sống sắp bị tước đoạt của họ. Những lưỡi kiếm chết người được rút ra khỏi vỏ ở cả hai bên.

Vị thần chiến binh đã dạy dỗ tốt bọn nô lệ.

Người phàm không được sự bảo vệ của một vị thần chẳng khác gì lũ sâu bọ để bị giẫm nát, hoặc ít ra là chúng đã được dạy như thế.

“Dừng lại!” Ta’anari hét lớn. “Những chiến binh, hãy dừng tay lại!”

Những chiến đoàn đó không phải của ông; nhưng ông là một Thái Dương Tộc, và giọng nói đầy uy quyền của ông đã khiến họ phải dừng lại. Những thần chiến binh xung quanh nhìn chằm chằm, miệng mở to kinh ngạc với những gì Ta’anari vừa làm. Naganeka xứ Zuretta trườn tới trước, hạ thấp thân người để xem xét xác chết đang lạnh dần của Xuuyan. Những làn khói mờ bốc lên từ xác của hắn, năng lượng thượng giới đang dần thoát khỏi da thịt trần tục trên cơ thể hắn.

Ả ta hạ mũ trùm đầu xuống, làm lộ ra đôi mắt mê hoặc phủ màu tro, cặp môi vảy nhô ra những chiếc răng nanh dài và đen bóng. Ả cúi xuống vết thương phía sau lưng của Xuuyan, và lưỡi thè ra để nếm mùi vị cái chết của hắn.

“Rhaast sẽ thất vọng đây,” ả nói, với một giọng ẩm ướt, rin rít của loài bò sát. “Hắn đã thề rằng sẽ tự tay giết chết Xuuyan.” Đám tín đồ bị nọc độc của ả làm mù lòa lê bước phía sau, không chắc chắn về việc họ cần phải làm khi vị nữ ác thần của họ đã lên tiếng.

Những người còn lại tiến đến một cách thận trọng. Enakai và Syfax ngước nhìn Ta’anari với một sự tôn trọng mới. Những kẻ còn lại dù tiếc nuối với cái chết của Xuuyan, nhưng họ đã nhìn thấy được điều phi thường mà Ta’anari làm, kể cả là đối với một thần chiến binh.

Shabaka và Shabake đi vòng quanh xác chết. Đôi cánh của họ rung lên trong sự kích động. Mùi hương của cái chết bao quanh họ như một chiếc áo choàng – sự tha hóa đã chạm đến tất cả bọn họ, biểu hiện rõ nhất ở cặp đôi này.

Những cặp mắt tinh thạch, những đôi mắt đã nhìn thấy quá nhiều, đảo qua lại. “Đã bảo rằng hắn sẽ chết hôm nay, phải không em gái?” Shabaka nói.

“Họ chẳng bao giờ chịu nghe, đúng không?” Shabake trả lời.

Shabaka khẽ cười. “Không, không, đừng bao giờ nghe lũ quạ mất trí. Chúng ta biết gì nhỉ? Chỉ là mọi thứ thôi!”

“Các ngươi đã thấy được trước thứ này à” Zigantus gặng hỏi.

“Đúng, đúng, đã thấy hắn đến quá gần chiếc sừng. Nói với hắn ta, nhưng hắn chỉ cười.”

“Giờ thì hết cười, đúng không, anh trai?”

“Hết cười rồi em gái à.”

“Các ngươi còn thấy được gì nữa?” Syphax hỏi.

Cặp đôi tiên tri rúc lại với nhau, thì thầm và ném qua ném lại những mẩu xương. Tâm trí của họ đã vỡ vụn trong trận chiến để vá lại Vết Nứt Lớn ở Icathia. Không một ai, ngay cả những chiến binh thần thánh, có thể nhìn thẳng vào những thực thể phi tự nhiên nơi Khe Nứt mà sự tỉnh táo lại không bị rạn nứt chút ít.

Shabake chau mày. “Tương lai được dệt nên quá chặt để có thể đoán được…”

“Quá nhiều khả năng có thể xảy ra ở hiện tại để có thể nhìn rõ bất kì thứ gì,” Shakaba bổ sung. “Không thể chắc chắn được.”

“Tất cả chúng ta đều có thể chết ngày hôm nay. Hoặc một vài,” Shabake nói. “Hoặc không ai cả. Cũng có thể là ngươi sẽ giết Ta’anari ngay bây giờ, và chúng ta sẽ được sống.”

“Sống để giết lẫn nhau trong một ngày khác” – Shabaka lảm nhảm.

“Cô ta muốn nó. Cô ta là hòn đá cuội sẽ bắt đầu trận lở tuyết.”

“Nói thẳng đi!” Zigantus yêu cầu. “Ai muốn gì? Đá cuội? Tuyết lở? Các ngươi đang nói về thứ gì?”

“Cô ta!” Shabaka rít lên, chỉ tay xuyên qua Ta’anari hướng đến hình bóng bé nhỏ của Myisha. “Cô ta là cái gai trong mắt của những vị thần.”

Myisha ôm chặt thanh Chalicar vào ngực mình, như một đứa bé bám víu vào thanh kiếm của cha mình.

Cebotaru gầm gừ và kéo mạnh Ta’anari về phía mình. Dù vẻ ngoài của vị Lang Thần mảnh khảnh, nhưng mạnh mẽ khó tin với bốn cánh tay vạm vỡ phủ lông xám đi kèm với những nắm đấm đầy vuốt nhọn. “Họ vừa nói về cái gì?” Hắn gầm lên. “Kẻ đó, cô ta là ai?”

Ta’anari kiềm nén tiếng rên vì đau khi những mảnh xương vặn vẹo trên cột sống của ông nối liền lại với nhau. “ Cô ta là một người phàm, không hơn không kém,” ông nói.

“Ngươi luôn là một kẻ nói dối tệ,” Cebotaru nói, để lộ những chiếc răng nanh dài và cong. “Nói sự thật, anh trai, hoặc là ta sẽ xé nát cổ họng ngươi trước khi ngươi kịp biến đi.”

“Cô ấy giúp ta tìm chiếc Chalicar,” Ta’anari nói.

Cebotaru lắc đầu. “Đại Học Giả đã chôn cất Chalicar với Setaka khi ông tìm cách che giấu thi thể của cô, sau sự tuyệt diệt của Icathia. Làm cách nào mà một người phàm có thể biết được cách để tìm ra nó?”

“Cô ấy không làm thế, nhưng cô ấy dẫn ta đến Nasus”

Tất cả mọi người đều quên đi Xuuyan, và hướng sự chú ý của họ đến Ta’anari.

“Ngươi đã nhìn thấy Đại Học Giả à?” Valeeva nói, những đốt xương sống phía sau lưng cô dựng lên đầy hi vọng. “Chẳng còn ai thấy ngài nữa kể từ khi ngài giết chết Moneerah vì đào bới đống đổ nát đã cháy rụi của thư viện Nashramae vĩ đại.”

“Ta đã thấy ngài, nhưng ngài đã thay đổi rất nhiều kể từ lần cuối chúng ta gặp ngài. Gánh nặng ngài mang theo đã nghiền nát ngài. Ngài lang thang ở một tòa tháp được xây trên một vách núi ẩn, nhìn ngắm những vì tinh tú nhảy múa. Ngài đã nhờ cô ấy tìm kiếm ta, và đưa ta đến tòa tháp của ngài.”

“Tại sao lại là ngươi?” Naganeka rít lên giận giữ. “Tại sao không phải là ai trong chúng ta?”

“Ta không biết,” Ta’anari nói. “Có nhiều người khác có vẻ xứng đáng với sự chú ý của ngài hơn.”

“Và ngươi đã nói chuyện với ngài?” Enakai hỏi.

“Đúng thế,” Ta’anari trả lời.

“Và ngài bảo ngươi đi tìm lưỡi kiếm của Setaka?”

“Đúng,”

“Chỉ có thế thôi à?” Syphax thốt lên.

“Không, không chỉ có thế,” Ta’anari ngắt lời, thoát khỏi sự kìm kẹp của Cebotaru. Ông quay sang lấy chiếc Chalicar từ tay Myisha. Sức mạnh bên trong thứ vũ khí này là to lớn và dữ dội. “Ta đã nói với ngài về cuộc chiến tranh của chúng ta, về cách mà chúng ta đã thiêu rụi thiên đường và xâu xé lẫn nhau như những con thú. Ta nói rằng ta cần vũ khí của Setaka để ngưng sự đổ máu này lại.”

“Nasus đã chối từ chúng ta khi Azir sụp đổ,” Zigatus nói. “Tại sao ngài lại giúp đỡ vào lúc này?”

“Ngài đã từ chối Thái Dương Tộc, bởi ngài đã nhìn thấy lòng đố kị gay gắt và nỗi thù hận vặn vẹo trong tâm trí chúng ta,” Ta’anari nói. “Ngài đã đi trên những con đường bị lãng quên nơi thế giới này, vụn vỡ bởi sự thống khổ, lang thang trong những kí ức về người em trai đã mất, nhưng cuối cùng thì ngài vẫn luôn quay về với vùng đất quê hương mình.”

Ta’anari hít sâu, nhăn nhó khi cảm giác được dòng ma thuật di chuyển bên trong ông. Những cơn đau nhói đè nặng từ bụng lên tim ông.

Và rồi, cái kết bắt đầu…

Myisha đã cảnh báo rằng sử dụng ma thuật mà cô đã chỉ dạy cho ông sẽ dần biến đổi một Thể Thăng Hoa, phá vỡ những ràng buộc đã liên kết sức mạnh bất tử của những vị thần với xác thịt con người của ông. Quyền năng đó kiềm giữ nỗi đau của những trận chiến vĩnh cữu và xóa nhòa cảm giác về hàng thiên niên kỉ trôi qua, nhưng có một số thứ không sinh ra để tồn tại mãi mãi.

Nỗi sợ chạm đến ông, lạnh lẽo và xa lạ, nhưng ông đã chiến đấu với rất nhiều nỗi đau và sự yếu đuối.

“Ngươi nói đúng, Zigantus. Nasus sẽ chẳng bao giờ nhúng tay vào cuộc chiến của chúng ta, nhưng điều đó không có nghĩa là ngài không quan tâm đến nó. Ngài đã nói với ta rằng những vì sao đã tiên đoán về một tương lai phía xa, nơi Shurima sẽ một lần nữa trỗi dậy từ cát bụi, nơi vị vua của công lý sẽ chiến đấu để lấy lại sự thống trị đã mất đi.”

“Shurima sẽ trỗi dậy một lần nữa?” Cebotaru nói, không giấu được sự háo hức. “Khi nào?”

“Chúng ta sẽ không thể sống sót để thấy nó đâu,” Ta’anari nói. “Không phải tất cả chúng ta.”

Shabake lê thân hình khẳng khiu vào giữa bọn họ. Cánh tay khô héo của ả đâm vào không khí, đôi mắt sẫm màu mở rộng. “Tất cả chúng ta có thể chết ngày hôm nay. Hoặc là chỉ một vài người,” ả kêu thé lên.

Syphax đẩy ả ta ra chỗ khác. “Thanh Chalicar,” hắn nói. “Liệu nó sẽ đóng vai trò trong sự tái sinh của Shurima?”

“Đúng,” Ta’anari nói. “Dù tốt hay xấu. Nó cũng sẽ là biểu tượng để cư dân Shurima theo bước. Ta đã hi vọng nó sẽ chữa lành vết thương giữa chúng ta – một lời nhắc về những gì mà chúng ta từng trở thành, và cũng là thứ mà chúng ta có thể trở thành một lần nữa. Nó có thể cứu vớt chúng ta nếu chúng ta nhân cơ hội này để gầy dựng lại tình huynh đệ đã từng kết nối chúng ta dưới một màu cờ.”

Cebotaru kêu lên trong sự thích thú. “Và giờ sự thật đã rõ. Ngươi đã tập hợp chúng ta lại đây để giành lấy quyền lãnh đạo, sở hữu món vũ khí của vị chiến thần vĩ đại nhất trong chúng ta, và được ủy nhiệm bởi chính Đại Học Giả.”

Ta’anari lắc đầu.

“Không, ta sẽ không bao giờ sánh vai được với Setaka, hay là Nasus. Tất cả những gì ta muốn là chấm dứt cuộc chiến này. Ta đã hi vọng rằng chúng ta sẽ có thể cùng nhau làm nó, nhưng giờ thì ta hiểu rằng đó chỉ là một giấc mơ bất khả thi.

Ta’anari đi xa khỏi những đồng loại của mình, và di chuyển đến chính giữa của khán trường. Mọi ánh mắt đổ đồn về ông, tám vị thần chiến binh và hàng ngàn người phàm.

Cơn đau lan tỏa khắp cơ thể ông, gần như quá sức chịu đựng. Ông nuốt ực, nếm mùi vị của những hạt cát phía sau cổ họng. Lông bị cuốn thành từng vệt trên cơ thể. Mọi chuyển động cứ như đang khiến cho những mảnh vỡ thủy tinh bị nghiền vụn dưới chân ông.

Ông xoay lại để nói trước những người còn lại

“Quyền năng không bị kiếm soát khiến chúng ta trở nên kiêu ngạo, khiến chúng ta tin rằng chẳng thứ gì có thể chống lại chúng ta. Chúng ta là những người đầy tớ nghèo khổ của thế giới này, chứ không phải là những chủ nhân của nó. Chúng ta đã từng gọi mình là Thể Thăng Hoa. Giờ thì chúng ta là gì? Darkin? Một cái tên được người phàm đặt ra vì họ đã không còn hiểu chúng ta là ai, và chúng ta được tạo ra để làm gì.”

Ông đưa đôi mắt nhòa dần hướng về phía hàng ngàn người đang xem trên các bậc thang của khán trường, nước mắt tạo thành một vệt dài trên làn da đang dần bong tróc của ông.

“Họ thù ghét chúng ta, và khi nỗi kinh hoàng nơi đáy sâu hiện hữu một lần nữa, họ sẽ cầu xin chúng ta quay trở lại,” Ta’anari nói, bắt gặp ánh mắt hăm hở của Myisha. “Nhưng chúng ta sẽ biến mất,như những lời thì thầm trong bài đồng ca của gió, như một huyền thoại đen tối về những vị thần khiếm khuyết trong lời răng dạy những đứa trẻ không vâng lời.”

Với chút sức lực cuối cùng, Ta’anari đập thanh kiếm Chalicar xuống mặt sàn tinh thể của khán trường. Một tiếng động chói tai phát ra, như một phát búa tạ đập vào bức màn của thế giới. Vết nứt từ vụ va chạm lan xa hơn nhiều so với bình thường, và bầu trời trong trẻo rực cháy với ánh sáng chói lóa của một vì tân tinh.

Nhưng đó không phải là ánh sáng vàng. Nó lạnh lẽo, tàn nhẫn và màu bạc.

“Những gì mặt trời tạo ra, mặt trang sẽ phá đi!” Ta’anari thét lớn.

Và một cột lửa trắng sáng rực đâm xuyên xuống từ bầu trời đêm.

Nó chạm vào những lưỡi kiếm của chiếc Chalicar và phát xạ ngọn lửa ra xung quanh, nhắm vào những vị thần chiến binh và đâm xuyên qua ngực họ. Nó thiêu cháy họ, lan đến trái tim ma pháp và nuốt chửng thứ ma thuật đã tạo nên họ.

Shabaka và Shabake bốc hơi ngay lập tức, biến mất trong đám mây cuộn trào của tro tàn và lông vũ. Tiếng hét cuối cùng của họ là lời hoan hỉ về sự tự do trộn lẫn với sự sợ hãi với những kiến thức vượt ngoài tầm hiểu biết.

Syphax lăn lộn trong luồng sáng như một con cá mắc câu, nhưng kể cả quyền năng của hắn cũng trở nên vô nghĩa trước với ngọn lửa từ vũ trụ. Zigantus đầu bò cố gắng bỏ chạy, nhưng kể cả tốc độ huyền thoại của hắn cũng chẳng thể thoát được ánh trăng hủy diệt mà Ta’anari đã triệu hồi.

Mặc dù da thịt bị bong tróc đến tận xương, Ta’anari vẫn khóc mỗi khi bọn họ chết đi. Họ là những người anh em, và ngay cả nhiều thế kỉ của cuộc chiến tranh bạo tàn nhất cũng chẳng thể làm ông ghét họ.

Ông nhìn thấy Enakai bị hủy diệt bởi luồng sáng, da thịt thần thánh của anh bị ánh sáng tách ra khỏi xương. Anh với tay tới Ta’anari, và đôi mắt tỏ vẻ chấp nhận giờ phút tận cùng của bản thân.

Ông rơi nước mắt với điều mà mình buộc phải làm.

Ánh sáng đốt cháy con mắt còn lại, và thế giới đen tối này đóng lại trước mắt ông. Những sức lực cuối cùng thoát khỏi cơ thể ông và ông ngồi sụp xuống mặt sàn thủy tinh của khán trường. Ông nghe nhiều tiếng thét hơn hơn, những tiếng la hét chiến đấu của những người chẳng biết gì về việc của thần cả. Nhiều người đổ máu hơn, nhưng rồi nó cũng sẽ qua thôi.

Liệu những phàm nhân sẽ tiếp tục cuộc chiến tranh mà giống loài của ông đã khởi xướng?

Có thể. Nhưng đó là một cuộc chiến tranh của những người phàm, và nó sẽ kết thúc thôi.

Ta’anari lần mò trong bóng tối, lạc trong hồi ức về những ngày tháng tươi đẹp.

Ông cố nhớ lại cuộc đời mình trước khi leo lên những bậc thang vàng cùng Enakai để đến với mặt trời. Có quá ít thứ của thời kì ấy còn sót lại, kí ức ông đã bị xé toạc khi luồng sức mạnh thần thánh lấp đầy tâm trí.

Ta’anari nghe tiếng bước chân. Tiếng lạo xạo của những chiếc ủng da đạp lên mảnh vỡ thủy tinh. Ông nghe mùi xác thịt phàm nhân, trộn lẫn với mùi mồ hôi và thối rữa.

Đó là thứ mùi mà ông có thể nhận ra được. Đám tín đồ của ông.

Ta’anari giơ tay lên, quờ quạng tìm kiếm một người sống khác, nhưng chẳng ai chạm vào ông cả.

“Sulpae?” ông rên rĩ. “Đó là ngươi à? Teushpa? Idri-Mi? Làm ơn, giúp ta. Ta nghĩ… Ta đã trở thành người phàm một lần nữa, Ta… Ta nghĩ mình đã trở lại thành người…”

“Đúng thế,” Một giọng nói có vẻ như đang cố nhịn cười.

“Myisha,” Ta’anari thì thầm. “Họ đã chết hết à?”

“Không. Naganeka, Valeena và Cebotaru đã kịp chạy thoát trước khi ngọn lửa thiêu cháy họ. Nhưng họ khá yếu, và ta cũng không nghĩ rằng họ sẽ là vấn đề quá lâu đâu. Đó là những tên khác, những kẻ không xuất hiện, chúng sẽ khó để bẫy hơn nhiều.”

“Không! Cô phải kết liễu họ,” Ta’anari rên rỉ. “ Ngay cả một vị thần chiến binh bị thương vẫn có thể chinh phục thế giới này.”

“Hãy tin ở ta,” Myisha nói, “những gì chúng ta làm ở đây đã đánh dấu ngày tàn của chủng loài ông.”

“Thế thì chúng ta làm được rồi. Chúng ta đã đem lại sự hòa bình.”

Lần này thì cô ta bật cười. “Hòa bình? Không, không – thế giới này sẽ chẳng bao giờ biết được hòa bình. Không hẳn thế.”

Cảm thấy lẫn lộn, Ta’anari cố gắng đứng dậy, nhưng những mũi giáo thúc vào ngực đẩy ông trở lại.

“Không, ngươi sẽ nằm đấy,” Myisha nói.

“Làm ơn, giúp ta đứng lên,” ông nói. “Ta đã nói rồi, giờ ta là người.”

“Ta đã biết rồi, nhưng ngươi đã nghĩ rằng điều đó sẽ rửa sạch những tội lỗi chồng chất của ngươi sao? Hãy nghĩ đến những mạng sống mà ngươi đã kết liễu. Liệu trở thành người là ngươi sẽ được tha thứ cho những đại dương mà ngươi đã tắm trong máu hay sao? Nói cho ta biết, ngươi đã làm bao nhiêu điều tàn ác trước khi thứ lương tâm thối rữa của ngươi đủ cắn rứt để ngươi làm việc này?”

“Ta không hiểu,” Ta’anari lẩm bẩm. “Cô đang nói gì thế?”

Myisha cười khúc khích, và cô đột nhiên trở nên trẻ hơn rất nhiều so với ông, và cũng không thể là một thực thể cổ đại. Ông nghe thấy tiếng nứt khi thanh Chalicar bị kéo ra khỏi mặt sàn của khán trường.

“Ta đang nói rằng cái chết của ngươi đã được dự báo từ trước, Ta’anari,” Myisha nói. “Một số trong các ngươi không xấu, ta nghĩ thế, nhưng đa phần các ngươi đã bị tàn phá trong cuộc chiến tranh với Hư Không, và đó là một điều kì diệu khi các ngươi đã sống sót thêm lâu đến thế. Có lẽ tạo ra giống loài của các ngươi đã là một sai lầm tự ban đầu, nhưng là một sai lầm mà ta có thể sửa chữa được.”

Ngay cả khi không còn đôi mắt, Ta’anari vẫn cảm nhận được năng lượng của chiếc Chalicar phía trên ông. Dù cơ thể đã khô héo và không còn gì để mất, ông vẫn khóc trong đau đớn khi lưỡi kiếm cắt đôi ngực ông.

Myisha thì thầm vào tai ông. “Sức mạnh bên trong thứ vũ khí này đã chạm đến tất cả các ngươi, Ta’anari. Nó đã nhận biết giống loài của các ngươi. Và ta sẽ đưa ngọn lửa đó cho nhân loại.”

Tay của cô ta đang ở bên trong ông, và Ta’anri cảm giác trái tim mình bị cắt ra, cảm giác nó bị nhấc bổng khỏi lồng ngực… và, ông vẫn sống.

Ít ra là thêm một chút nữa.

“Idri-Mi,” cô nói, trao cho trái tim của Ta’anari, “cầm thứ này và chiếc Chalicar đến kho vũ khí của ngươi. Chúng ta sẽ cần một cách khác để xử lý phần còn lại của bọn…”

Myisha dừng lại.

“Khoan đã, cái tên cũ rích đó là gì”

Rồi cô búng tay.

“À, đúng rồi. Nó đây. Darkin.”

Nguồn: League Of Legends Universe

Chuyên mục Hồ Sơ Nhân Vật Liên Minh Huyền Thoại

Website: hosonhanvat.vn

Get real time updates directly on you device, subscribe now.

Bình Luận
Loading...